Nhà Giả Kim, sách nói về kỹ năng sống, cuốn sách hay nhất mọi thời đại
Tài Liệu GDDP Quảng Ninh

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Quy
Ngày gửi: 16h:15' 19-08-2025
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Quy
Ngày gửi: 16h:15' 19-08-2025
Dung lượng: 4.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
sở giáo dục và đào tạo quảng ninh
Nguyễn Văn Tuế (Tổng Chủ biên) - Nguyễn Văn Tùng (Chủ biên)
Lê Thị Sông Hương - TRƯƠNG THIẾU HUYỀN - Dương Thị Oanh
Nguyễn Chiến Thắng - Nguyễn Thị Thanh Thủy
Tài liệu
Giáo dục địa phương
Tỉnh Quảng Ninh
Lớ p
10
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Bài
Lời nói đầu
Chủ đề 1
Văn hoá, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
Bài 1
Quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh
Bài 2
Văn học dân gian tỉnh Quảng Ninh
Bài 3
Di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bài 4
Mối quan hệ giữa các di tích, di sản, danh thắng với
Trang
3
4
9
17
28
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Quảng Ninh
Bài 5
Các dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bài 6
Thực hành lịch sử - tái hiện lịch sử
Chủ đề 2
ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
Bài 7
Vị trí địa lí, đặc điểm lãnh thổ tỉnh Quảng Ninh
Bài 8
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Ninh
Bài 9
Đặc điểm dân cư và xã hội của tỉnh Quảng Ninh
Chủ đề 3
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Bài 10
Quy tắc ứng xử nơi công cộng
Bài 11
Hệ thống chính quyền tỉnh Quảng Ninh
Chủ đề 4
MÔI TRƯỜNG
Bài 12
Đa dạng hệ sinh thái và sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh
34
40
44
49
58
65
72
79
LỜI NÓI ĐẦU
Các em học sinh thân mến!
Trên tay các em là cuốn "Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Quảng Ninh
lớp 10". Với 4 chủ đề, các em sẽ được tìm hiểu thêm và sâu hơn về các
vấn đề: Văn hoá, lịch sử truyền thống; Địa lí địa phương; Chính trị - xã hội;
Môi trường của địa phương.
Thông qua hoạt động trong các chủ đề, các em sẽ được trang bị những
tri thức cơ bản về Quảng Ninh. Qua đó, các em được phát triển những
năng lực và phẩm chất cần thiết, được bồi đắp tình yêu quê hương,
đất nước.
Cuốn sách sẽ đồng hành với các em trong suốt năm học đầu tiên ở
Trung học phổ thông. Hi vọng các em sẽ yêu thích các nội dung trong
sách, say mê học tập, trải nghiệm, biết vận dụng, liên hệ để hiểu rõ hơn
những vấn đề của địa phương và thêm trân trọng truyền thống quê hương
Quảng Ninh.
Cuốn sách được biên soạn lần đầu nên khó tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong nhận được ý kiến góp ý của các cán bộ quản lí, giáo viên, phụ
huynh và các em học sinh để chất lượng cuốn sách ngày càng tốt hơn.
CÁC TÁC GIẢ
3
Chủ đề 1
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
bài 1
QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP
TỈNH QUẢNG NINH
Mục tiêu
Biết được quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh (các mốc thời gian,
tên gọi; ý nghĩa sự kiện ngày 30-10-1963).
Trình bày được nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi địa giới hành chính
và tên gọi của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kì lịch sử.
Tự hào và trân trọng những đóng góp của các thế hệ đi trước đối với
việc thành lập và phát triển tỉnh Quảng Ninh; ý thức được trách nhiệm
và có hành động cụ thể góp phần xây dựng và phát triển địa phương.
mở đầu
Quảng Ninh ngày nay là một trong những cực tăng trưởng kinh tế toàn diện
của phía bắc Tổ quốc. Vùng đất và tên gọi Quảng Ninh có từ bao giờ? Tỉnh
Quảng Ninh đã bao nhiêu lần thay đổi tên? Tên gọi Quảng Ninh gợi cho em những
suy nghĩ gì?
hình thành kiến thức mới
1. Quảng Ninh trước thế kỉ XX
Thời gian
Thuộc nhà nước
Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)
2879-258 TCN
Văn Lang
Bộ Ninh Hải
257-208 TCN
Âu Lạc
Bộ Ninh Hải
207-111 TCN
Nam Việt
4
Bộ Ninh Hải
(vùng Đông Triều thuộc bộ Dương Tuyền)
Thời gian
Thuộc nhà nước
Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)
111 TCN-25
Tây Hán
25-40
Đông Hán
4043
Quận Giao Chỉ
(chính quyền tự chủ Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và Khúc Dương)
người Việt)
43-244
Đông Hán
244-248
Nhà Ngô
248-264
Quận Giao Chỉ
Thuộc quận Quận Giao Chỉ (hai huyện An Định và Khúc
(chính quyền tự chủ
Dương)
người Việt)
264-265
Nhà Ngô
Nhà Ngụy
Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và
Khúc Dương)
Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và Khúc Dương)
Thuộc quận Quận Giao Chỉ (hai huyện An Định và Khúc
Dương)
265-279
Nhà Ngô
280-420
Nhà Tấn
420-479
Lưu Tống
479-507
Nhà Tề
507-543
Nhà Lương
Thuộc châu Hoàng – quận Ninh Hải
544-603
Vạn Xuân
Quận Hải Ninh
603-617
618-713
Nhà Tuỳ
Thuộc quận Giao Chỉ gồm huyện An Định và một phần
huyện Khúc Dương
Thuộc trấn Hải Môn
Trấn Triều Dương
713-722
Chính quyền tự chủ
Trấn Triều Dương
người Việt
722-791
Nhà Đường
791-802
Chính quyền tự chủ
Trấn Triều Dương
người Việt
802-905
Nhà Đường
905-907
Chính quyền tự chủ
người Việt
907-922
Hậu Lương
923-936
Hậu Đường
937-938
Hậu Tấn
939-1009
Đại Cồ Việt
Trấn Triều Dương
Trấn Triều Dương
Trấn Triều Dương
Thuộc Châu Lục (gồm hai huyện Hoa Thanh, Ninh Hải);
vùng Đông Triều thuộc Châu Giao (Huyện Nam Định)
Thuộc Trấn Triều Dương; Vùng Nam Triều thuộc lộ Nam
Sách Giang
5
Thời gian
Thuộc nhà nước
Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)
1010-1241
Đại Việt
Châu Vĩnh An; lập thêm trang Vân Đồn
1242-1284
Đại Việt
Lộ Hải Đông và huyện Đông Triều thuộc phủ Tân Hưng
1285-1396
Đại Việt
Lộ An Bang
1397-1400
Đại Việt
Lộ phủ Tân An
1400-1407
Đại Ngu
Châu Tĩnh An
1407-1427
Đại Ngu
Châu Tĩnh An
1428-1527
Đại Việt
Trấn An Bang và huyện Đông Triều (thời Lê Thái Tổ)
Đạo thừa tuyên An Bang (thời vua Lê Thánh Tông)
1527-1595
Đại Việt
Châu Vĩnh An
1596-1788
Đại Việt
Trấn An Quảng; trấn Yên Quảng
1788-1802
Đại Việt
Trấn Yên Quảng
1802-1906
Việt Nam
Trấn Yên Quảng; trấn Quảng Yên; tỉnh Quảng Yên
1906
Thực dân Pháp
Tỉnh Quảng Yên; thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh
Quảng Yên.
(Nguồn: Địa chí Quảng Ninh, NXB Thế giới, 2001, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
Đọc thông tin trên và thực hiện yêu cầu:
1. Em có nhận xét gì về mốc thời gian ra đời của Bộ Ninh Hải?
2. Tên gọi của Quảng Ninh thay đổi theo thời gian và chính quyền quản lí mới nói
lên điều gì?
2. Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963
Đầu thế kỉ XX, tỉnh Quảng Yên bao gồm cả khu Hòn Gai và châu Hải Ninh.
Năm1906, thực dân Pháp thống trị thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh Quảng Yên.
Để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, tỉnh Quảng Yên lại được tách,
nhập và thay đổi tên gọi: Tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai (năm 1946), nhập lại
thành Liên tỉnh Quảng Hồng (năm 1947). Đến năm 1948 lại được tách ra thành Đặc
khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Năm 1955, sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng, trên cơ sở
sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Sau khi hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ
6
khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã lãnh đạo Nhân dân bắt tay vào khôi phục
kinh tế, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển tỉnh về mọi mặt.
Theo nguyện vọng của Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày
30-10-1963, Quốc hội đã phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành
tỉnh Quảng Ninh. Ngày 18-11-1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định hợp nhất
hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh thành một Đảng bộ là “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh”.
Cùng với việc hợp nhất hai Đảng bộ, các cơ quan nhà nước của hai tỉnh cũng lần lượt được
hợp nhất thành một.
Như vậy, từ cuối năm 1963, lịch sử Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải
Ninh bước sang một trang mới, hai tỉnh đã được hợp nhất thành một tỉnh và vinh dự được
Bác Hồ đặt tên là tỉnh Quảng Ninh.
Giữa năm 1963, việc hợp nhất hai địa phương Hồng Quảng và Hải Ninh đã được
Trung ương quyết định. Việc đặt tên tỉnh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng Nhân dân
hai nơi tự lựa chọn… Bác đã hỏi ý kiến nhiều đồng chí, Bác đề nghị lấy chữ cuối của tỉnh
Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh, vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại
có nhiều nghĩa. “Quảng” là rộng lớn, “Ninh” là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một
vùng rộng lớn, yên vui, bền vững. Ông cha ta đã chẳng từng đặt những tên An Bang, Ninh
Hải, Hải Ninh, An Quảng, Quảng Yên đó sao?… Chỉ một cái tên tưởng đơn giản mà Bác
đã suy nghĩ và gửi gắm vào đó bao điều!.
(Theo lời kể của đồng chí Hoàng Chính, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hải Ninh năm 1946-1948, 1955-1963;
nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Ninh năm 1964-1969)
Tỉnh Quảng Ninh (tháng 10 năm 1963) gồm 3 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí
và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối,
Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.
Từ khi thành lập đến nay, Quảng Ninh không ngừng lớn mạnh, phát triển toàn diện,
hiệu quả và bền vững.
1. Lập bảng thống kê thời gian và tên gọi Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến
năm 1963.
2. Nêu ý nghĩa của ngày 30-10-1963 đối với Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
7
luyện tập
1. Vẽ sơ đồ thể hiện các mốc thời gian gắn với tên gọi Quảng Ninh qua các thời kì lịch
sử (giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963).
2. Nêu cảm nghĩ của em về việc Bác Hồ đặt tên cho tỉnh là Quảng Ninh.
vận dụng
1. Quan sát bảng số liệu thống kê. Nêu nhận xét về sự phát triển của các đơn vị hành
chính và dân số của tỉnh Quảng Ninh từ năm 1963 đến nay.
Nội dung
Tổng số đơn vị
hành chính
Dân số
Năm 1963
Năm 2020
Tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị
hành chính gồm 3 thị xã: Hồng
Gai, Cẩm Phả, Uông Bí và 11
huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu,
Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập,
Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ,
Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.
Tỉnh Quảng Ninh có 13 đơn vị hành
chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 4
thành phố (Hạ Long, Móng Cái, Cẩm
Phả, Uông Bí), 2 thị xã (Quảng Yên,
Đông Triều), 7 huyện (Hải Hà, Đầm Hà,
Bình Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân
Đồn, Cô Tô) với 177 đơn vị hành chính
cấp xã (98 xã, 72 phường, 7 thị trấn).
139.596 người
1.320.324 người
2. Giới thiệu quá trình thành lập huyện hoặc thị xã, thành phố, khu kinh tế nơi em
đang sống và học tập.
8
bài
2
VĂN HỌC DÂN GIAN tỉnh QUẢNG NINH
Mục tiêu
Thuyết minh được những nét khái quát về văn học
dân gian Quảng Ninh.
Lựa chọn và thuyết trình được một vấn đề của văn
học dân gian Quảng Ninh.
Có kĩ năng đọc hiểu một số tác phẩm văn học
dân gian tiêu biểu của Quảng Ninh.
mở đầu
Lựa chọn: Kể tên một truyện cổ hoặc đọc một bài vè, một câu tục ngữ, một câu
ca dao về Quảng Ninh mà em biết.
hình thành kiến thức mới
I. Vài nét khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh
1. Bối cảnh hình thành và phát triển văn học dân gian Quảng Ninh
Quảng Ninh có miền núi, trung du, đồng bằng, vùng ven biển, vùng biển với nhiều
thành phần dân tộc cùng chung sống. Nghiên cứu văn học dân gian Quảng Ninh cho thấy,
mỗi vùng miền nêu trên đều trở thành những “cái nôi” phát triển văn học dân gian. Tuỳ
theo thành phần dân tộc và đặc thù văn hoá mà ở mỗi vùng miền, văn học dân gian có nét
đặc sắc riêng. Quảng Ninh không chỉ có văn học dân gian của người Kinh mà còn có văn
học dân gian của các dân tộc ít người. Bởi thế, văn học dân gian của Quảng Ninh có sự đa
dạng về thể loại, đề tài, nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện. Tuy nhiên, bên cạnh nét
đặc sắc riêng, văn học dân gian ở các vùng miền Quảng Ninh đều có điểm chung. Đó là,
các tác phẩm văn học dân gian phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như phần nào lịch sử
hình thành và phát triển của Quảng Ninh, phản ánh tâm tư tình cảm cũng như những kinh
nghiệm trong lao động sản xuất của người Quảng Ninh. Văn học dân gian còn là nguồn
nuôi dưỡng văn học viết, góp phần làm cho văn học Quảng Ninh nói chung trở nên phong
phú, đa dạng và đậm đà bản sắc riêng.
9
Bên cạnh sự đa dạng về thể loại, về đề tài, về nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện,
điểm chung của văn học dân gian Quảng Ninh là gì?
2. Các thể loại văn học dân gian tiêu biểu ở Quảng Ninh
2.1. Ca dao
Quảng Ninh có một kho tàng ca dao lớn về số lượng và giá trị nội dung tư tưởng, phản
ánh đời sống tâm tư tình cảm của người Quảng Ninh trong mối quan hệ giữa con người
với con người, con người với cuộc sống và con người với thiên nhiên, trong đó có một
số nội dung cơ bản sau:
– Vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên:
(1) Cửa Gỗ lại có hang Luồn
Thâu kênh Bồ Lội tới miền Tuần Châu
Nào nào Cửa Lục nơi đâu
Cửa Lục lại có lối thâu Kênh Đồng.
(2) Vua Thánh Tông trị vì thiên lí
Đặt bài thơ còn để lại đây
Miếu Đức Ông ở nơi Cửa Suốt
Khách vãng lai lần lượt cúng dâng
Vạn Hoa chốn ấy ngát lừng
Cặp Tiên có giếng giữa rừng trong thay.
Qua Soi Dây, bắt sang Ghềnh Đám
Tới Hòn Quay sẽ tạm nghỉ ngơi
Trông ra Hòn Gạc xa vời
Kìa voi Hà Nứa, kìa voi Đầm Bầu
Khe càng sâu lắm truông ở giữa
Qua Dù Dì tới cửa Tân Yên
Khen ai khéo đặt cho nên
Một bên Vũng Vật, một bên Vua Bà...
(Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng,
Ti Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh, 1980)
10
– Nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần qua việc tái hiện các truyền thống văn hoá,
lễ hội. Tiêu biểu là cảnh lễ hội miếu Tiên Công vào ngày mồng bảy tháng giêng:
Mồng bảy hội miếu Tiên Công
Dưới già đánh vật, trên rồng thi bay
Đêm thì hát đúm vui thay
Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.
Và lễ hội Yên Tử bắt đầu ngày 10 tháng giêng (âm lịch) kéo dài đến hết tháng ba:
Trăm năm tích đức tu hành,
Chưa về Yên Tử, chưa thành quả tu.
– Vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi:
(1) Trăm năm một cuộc tình duyên
Phải đâu thăm ván bán thuyền cho qua
Một lời đã nói cùng ta
Đừng như bãi sú vào ra trăm đường
Đã thương thì một lòng thương
Đừng như tép lẫn vãi đường vịt ăn.
(2) Trên rừng ríu rít chim kêu
Cửa lò róc rách suối reo đêm ngày
Thương nhau ta đứng ở đây
Nước non là bạn cỏ cây là tình.
(Ca dao Vùng mỏ)
(3) Yêu nhau nước đựng sàng không lọt
Ghét nhau nước đựng chậu còn trôi
Yêu nhau thì mười ngày đường cũng gần
Ghét nhau nhà trên nhà dưới vẫn xa.
(Ca dao dân tộc Tày)
– Sự lầm than, cơ cực của người phu mỏ thời kì thực dân Pháp khai thác thuộc địa. Họ
quanh năm ăn đói mặc rét, bị bóc lột thậm tệ, cuộc sống tối tăm:
11
(1) Oằn lưng đội thúng than đầy
Nửa lon gạo hẩm suốt ngày cầm hơi.
(2) Lên tầng khuỵu gối đun xe
Gò lưng mửa mật nắng hè cháy da.
(3) Ai về tôi nhắn câu này
Cu li Cẩm Phả đi giày bằng rơm
Bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông
“Đờ suy” là nón, gái không dám nhìn.
(4) Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát
Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông
Ai ơi, đứng lại mà trông
Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già
Việc gì mà rủ nhau ra
Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.
(Ca dao Vùng mỏ)
Nhìn chung, qua ca dao, có thể nhận thấy đời sống tâm hồn của người Quảng Ninh với
nhiều cung bậc, màu sắc gắn với mỗi hoàn cảnh sống. Dù cuộc sống xưa kia còn nhiều cơ
cực, nhưng vượt lên điều đó, người Quảng Ninh vốn giàu nghị lực sống và có tâm hồn lãng
mạn vẫn luôn thể hiện một tình yêu tha thiết với cuộc sống.
2.2. Vè
Qua hình thức văn vần, các bài vè thường nói về những nhân vật và sự kiện tại các địa
phương. Đáng chú ý có những bài vè: vè Trần Hưng Đạo khao quân, vè chiến khu Đông
Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng, vè Móng Cái giành chính quyền, chùm vè về đời sống
người thợ mỏ và chùm vè đi lính ở Vân Hải.
Vè Trần Hưng Đạo khao quân kể về việc Trần Hưng Đạo khao quân một bữa cháo hoa để
nhắc nhở quân sĩ không quên dân trăm họ đang đói khổ trong tình cảnh bị giặc ngoại xâm cướp
bóc, từ đó thức tỉnh lòng căm thù giặc, khích lệ ý chí chiến đấu đánh tan kẻ thù xâm lược.
Vè Móng Cái giành chính quyền, vè chiến khu Đông Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng kể
về những con người và sự kiện đáng nhớ trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
12
Bên cạnh những bài vè là sáng tác của tập thể, Quảng Ninh còn có những bài vè do cá
nhân sáng tác. Nổi tiếng là vè ông đĩ Tràng ở đảo Vân Hải (huyện Vân Đồn). Ông đĩ Tràng
là người sáng tác những bài vè nổi tiếng; ông có con gái đầu lòng tên là Tràng, người ta
lấy tên con gái ông để gọi ông theo cách gọi của người xưa. Vè ông đĩ Tràng hài hước, kể
những chuyện như mấy cô đi đào mồi nước trôi mất váy, chuyện ông ba vợ mà phải nằm
không, chuyện các ông chức dịch thu tiền dân sửa đình Quan Lạn nhưng rồi dùng tiền đó để
ăn uống, chia chác... Cùng với vè ông đĩ Tràng còn có vè cụ Bầm. Cụ ở xã Hiệp Hoà, thị xã
Quảng Yên, thuộc dòng họ Vũ Văn nhưng có chức “Lý mua” nên được gọi là cụ Lý Bầm.
Cụ có một số bài vè nổi tiếng: vè hội đồng Bống, Bớp; vè đắp đập sông Khoai; vè Pháp
đánh thành Quảng Yên; vè Cung Đình Vận; vè phá chùa; vè cha Bằng... Những bài vè của
cụ tố cáo bộ mặt xấu xa, thối nát của bọn cường hào, kì mục tại địa phương cũng như sự tàn
ác của thực dân Pháp xâm lược.
Ông Pháp Thất ở khu Cẩm Phả có bài Vè đình công năm băm sáu với 317 câu. Bài vè
được ông sáng tác, khi cuộc đình công của thợ mỏ Cẩm Phả tháng 11 năm 1936 thắng
lợi. Nội dung bài vè trình bày từ nguyên cớ xảy ra cuộc đình công đến khi kết thúc
với những diễn biến cụ thể. Bài vè đã được phổ biến rộng rãi vào thời kì đó. Tên Cai
Hảo – một nhân vật trong bài vè – đã từng dọa bắt ông giải về Hòn Gai, nhưng trước lí
lẽ đanh thép của ông Pháp Thất chúng đã chịu thua. Ngoài giá trị văn học, bài vè còn
là một tài liệu lịch sử về cuộc đấu tranh vang dội của công nhân vùng mỏ trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945.
Cụ bà Phạm Thị Bế ở phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên có bài vè lụt năm Đinh Mão,
kể chuyện vỡ đê Hà Nam và thảm cảnh của dân chúng dưới thời thực dân Pháp. Cụ Bế còn
có một số bài: Vè cải cách ruộng đất; vè vào hợp tác xã nói về các sự kiện cách mạng đáng
nhớ đối với người dân.
Nhìn chung, đối với văn học dân gian Quảng Ninh, vè là thể loại có nhiều thành tựu
đặc sắc, vừa có giá trị hiện thực vừa có nhiều giá trị nhân văn, đáng được lưu truyền
học tập.
2.3. Truyện dân gian
Trước hết phải nói đến những truyện cổ giải thích về nguồn gốc ra đời của những địa
danh cụ thể ở Quảng Ninh. Đó là truyền thuyết về Hạ Long và Bái Tử Long, giải thích về
nguồn gốc ra đời của hàng ngàn đảo đá trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long; là sự tích đảo
Trà Cổ, giải thích về nguồn gốc của những địa danh trên đảo Trà Cổ. Tương tự, còn có các
truyện: Sự tích hang Trinh Nữ, Sự tích Cô Thanh Lảnh, Sự tích sông Khoai, Sự tích hang
Nhà Trò, Sự tích hang Đúc Tiền, Sự tích hang Ma, Sự tích vụng Bạch Tuộc,…
13
Bên cạnh đó, còn một số truyện kể về một số nhân vật gắn với đất và người Quảng Ninh:
Sự tích xã Vô Ngại kể về số phận nhân vật vua Ngại và giải thích giống tre mọc ngược chỉ
có ở đây; Truyện Phạm Nhan kể về sự tích của tên giặc phản quốc Phạm Nhan và sự ra đời
của loài vắt và loài đỉa; Sự tích chùa và suối Giải Oan kể chuyện vua quan nhà Trần; Sự
tích miếu Lê Lợi giải thích sự ra đời của miếu thờ Lê Lợi ở xã Lê Lợi.
Ở các địa phương của Quảng Ninh còn có các câu chuyện ghi nhớ công lao của những
người đã có công khai mở, tạo dựng nên làng xóm quê hương như chuyện về 6 vị tổ ở Trà
Cổ, 25 vị Tiên công gắn liền với vùng đảo Hà Nam.
Nhìn chung, chủ đề xuyên suốt trong các truyện cổ về Quảng Ninh là tinh thần yêu
nước, yêu quê hương tha thiết và ý chí kiên cường của nhân dân Quảng Ninh trong công
cuộc bảo vệ non sông đất nước.
Các truyện dân gian Quảng Ninh, cũng giống như các truyền thuyết, cổ tích nói
chung, đều có yếu tố hoang đường kì ảo, nhưng cốt lõi vẫn là giải thích nguồn gốc
kiến tạo nên địa hình đất đai, trời biển Quảng Ninh; phản ánh hiện thực công cuộc tạo
dựng nên làng xóm quê hương và chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc
lập của Tổ quốc.
II. Đọc hiểu một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh
1. Ca dao
(1) Gió đông nam còn đang hây hẩy
Gió đông vàng lừng lẫy thuyền lên
Giong buồm từ vũng Cặp Tiên
Hôm nay Cặp Vấn tới miền Gãnh Dong
Xôn xao vợ vợ chồng chồng
Trở giời cá nổi cá dông áp bờ
Vui sao vui đến bất ngờ
Cá vào vỡ lưới phải chờ cá ra.
(2) Con ơi nhớ lấy lời cha
Bảo nhau chớ có mà ra chốn này
Chốn này là cảnh đọa đày
Trăm nghìn tai họa gieo ngay vào người
Lò sập đổ, đá rơi, tầng lở
Nào nạn tai xe cộ hằng ngày
Rừng thiêng nước độc khổ thay
14
Ốm đau, bệnh tật, chẳng rày thuốc thang
Muỗi như trấu, mùng màn chẳng có
Lại vắt rừng, thú dữ như rươi
Tay làm miệng chẳng đủ nuôi
Chốn này địa ngục, con ơi, đừng vào!
1. Khái quát chủ đề của từng bài ca dao.
2. Hiện thực cuộc sống được biểu hiện như thế nào qua từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp
tu từ ở mỗi bài ca dao?
3. Tư tưởng, tình cảm của tác giả dân gian được thể hiện qua mỗi bài ca dao.
2. Truyện cổ tích
SỰ TÍCH VỊNH HẠ LONG, BÁI TỬ LONG
Ngày xửa, ngày xưa, lâu lắm rồi, không biết vào thời nào, dân ta đang sống yên lành thì
bỗng kẻ thù ầm ầm kéo tới. Cậy đông người, chúng dùng hàng ngàn thuyền bè hùng hổ vây
kín mặt biển. Chúng nhăm nhăm gươm giáo và mồi lửa chỉ đợi lệnh là đồng loạt tràn lên bờ
giết hết, cướp hết, đốt phá hết.
Dân ta đã ít người, lại chỉ quen hoà bình làm ăn, làm thế nào địch nổi? Ai cũng thề
cảm tử, "giặc đến nhà đàn bà phải đánh" nhưng còn người già và trẻ em sao thoát được
tay giặc, tiếng than khóc vang trời. Chuyện ngang ngược trái đạo lí, trái lẽ trời và tiếng
than khóc động đến thiên đình. Không thể để đất nước con Rồng cháu Tiên bị giày xéo,
tàn phá, sản vật quý báu bị cướp không, dân lành bị tàn sát, trời bèn sai một đàn rồng
lập tức xuống hạ giới giúp dân ta ngăn chặn bước tiến của bọn giặc. Xuống vùng biển
này, ngay trước mũi thuyền giặc, đàn rồng vùng vẫy tạo nên một trận cuồng phong và
phun ra vô vàn châu ngọc. Châu ngọc thoắt biến thành hàng nghìn đảo đá muôn hình
nghìn dáng. Tất cả tạo nên một bức trường thành khổng lồ và bên trong các đảo đá
ngổn ngang làm thành một trận đồ bát quái. Đoàn thuyền giặc bị trận cuồng phong làm
thất điên bát đảo, lại thấy bức trường thành bỗng sừng sững trước mặt, chúng vô cùng
hoảng sợ bèn chen nhau tháo chạy. Trời yên, biển lặng, đất nước lại thanh bình, mọi
người lại vui vẻ làm ăn. Người cấy lúa, người bẫy thú, người bắt cá, cảnh tượng đông
vui tấp nập hơn xưa. Ai cũng quý mến đàn rồng, loài vật mà bao đời ông cha tôn thờ
là thuỷ tổ của mình. Đàn rồng cũng quyến luyến người và cảnh đẹp nơi này xin không
về trời nữa. Ít lâu sau, đàn rồng con ở trên trời nhớ mẹ cũng xuống theo. Từ đó, trong
vùng biển đông bắc nước ta vĩnh viễn hiện hình một vùng đảo đá kì lạ. Người ta đếm
15
được hơn hai nghìn hòn đảo mà không hòn nào giống hòn nào. Mỗi đảo đá như một
hòn non bộ khổng lồ do thợ trời tạc đẽo nên, quý giá như châu ngọc. Chỗ rồng xuống
được mọi người gọi là Hạ Long. Chỗ đàn rồng con xuống sau quỳ lạy mẹ gọi là Bái Tử
Long. Ngày nay, giữa vùng châu ngọc Hạ Long, người ta vẫn thấy ẩn hiện một dáng
rồng, đó là hòn Rồng. Trong vùng Bái Tử Long có một quả núi dài nhô lên mười ngọn,
chín ngọn quay về hướng Hạ Long, một ngọn quay đi hướng khác. Dân gian bảo đó là
mười rồng con và vẫn hát rằng:
Chín con theo mẹ ròng ròng
Còn một con út dốc lòng không theo!
(Tống Khắc Hài sưu tầm và kể)
(Trích trong Ngữ văn địa phương Quảng Ninh, tập 1,
Trương Quốc Trung, Trần Thuý Hạnh, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
1. Đọc, kể được sự tích trên (tóm tắt diễn biến cốt truyện).
2. Chỉ ra yếu tố kì ảo, hư cấu của truyện.
3. Vì sao Trời cho rồng xuống giúp Nhân dân đánh giặc? Ý nghĩa của sự việc này là gì?
4. Tại sao đánh xong giặc, rồng không về trời nữa?
5. Giải thích ý nghĩa tên gọi Hạ Long, Bái Tử Long.
luyện tập
1. Khái quát nội dung cơ bản của mỗi thể loại: ca dao, vè, truyện cổ tích Quảng Ninh,
mỗi thể loại tóm lược trong khoảng 80 chữ.
2. Căn cứ vào đặc điểm địa lí, lịch sử, giải thích vì sao Quảng Ninh lại có một kho tàng
văn học dân gian phong phú về thể loại và chủ đề/nội dung?
vận dụng
1. Ngoài một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu đã học, em hãy kể tên một số thể loại
văn học dân gian khác ở Quảng Ninh.
2. Sưu tầm thêm một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh và phân tích được vẻ
đẹp của một tác phẩm trong số đó.
3. Thuyết trình về một vấn đề văn học dân gian mà em tâm đắc.
16
bài
3
dI TÍCH, DI SẢN, DANH THẮNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Mục tiêu
Trình bày khái quát được các di tích lịch sử, di sản văn hoá,
danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (cấp huyện, cấp tỉnh,
cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt).
Giới thiệu được một số di sản văn hoá vật thể và phi vật thể
tiêu biểu.
Giới thiệu được một số di sản thiên nhiên, di sản phức hợp.
Giới thiệu được một số danh lam thắng cảnh tiêu biểu.
mở đầu
Em biết những di tích, di sản, danh thắng nào trên địa bản tỉnh Quảng Ninh? Hãy chia
sẻ những hiểu biết của em về những di tích, di sản, danh thắng đó với các bạn.
hình thành kiến thức mới
1. Một số di sản vật thể tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh
1.1.Danh lam thắng cảnh
● Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long
Hình 3.1. Một góc vịnh Hạ Long nhìn từ trên cao.
17
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía đông bắc của Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh
Quảng Ninh; phía tây bắc và bắc kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long,
thành phố Cẩm Phả, đến hết phần biển đảo huyện Vân Đồn; phía đông và phía nam giáp
vịnh Bắc Bộ; phía tây nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng).
Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và thẩm mĩ đặc biệt, ngày 12-8-2009, Thủ
tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng vịnh Hạ Long là Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày
17-12-1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ nhất là Di sản thiên nhiên
thế giới với tiêu chí về vẻ đẹp cảnh quan và ngày 02-12-2000 công nhận lần thứ hai với
tiêu chí về giá trị địa chất – địa mạo.
● Thác Khe Vằn Bình Liêu
Thác Khe Vằn cách thị trấn Bình Liêu về phía đông chừng 15 km. Thác nằm ngay đầu
nguồn suối Lục Ngù, được tạo ra từ mạch nguồn trong núi Thông Châu.
Thác Vằn nghĩa là Thác Mây. Khi đứng ở dưới chân thác nhìn lên, ta sẽ thấy thác đổ
xuống trắng xoá bọt nước, trông như những vầng mây trắng khổng lồ...
Thác Khe Vằn có độ cao
gần 100m với 3 tầng
thác. Mỗi tầng rộng
khoảng 10-15m2, tạo
thành bể nước trong
vắt. Nằm giữa dòng
thác chảy còn có những
phiến đá khổng lồ, nhẵn
bóng, phẳng lì, to như
những chiếc bàn lớn cho
cả chục người ngồi.
Hình 3.2. Thác Khe Vằn.
18
● Rừng ngập mặn Đồng Rui, huyện Tiên Yên
Rừng ngập mặn Đồng Rui được biết đến như lá phổi xanh bảo vệ môi trường,
phòng chống gió bão, triều cường và giải quyết nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội của
địa phương.
Hình 3.3. Rừng ngập mặn Đồng Rui.
1.2. Di tích khảo cổ
● Di chỉ khảo cổ huyện Cô Tô
Các nhà khảo cổ thuộc Viện khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện một di chỉ khảo cổ tại
bãi cát lớn trên con đường từ thị trấn Cô Tô đến xã Ðồng Tiến, huyện đảo Cô Tô. Trên bề
mặt di chỉ, bước đầu, các nhà khảo cổ phát hiện một số hiện vật như Hòn kê (hòn đá có lỗ
vũm trên một hoặc hai mặt) và bàn mài rãnh, đây là dấu hiệu cho thấy có thể huyện đảo Cô
Tô là một trong những địa điểm cư trú của chủ nhân thuộc văn hoá Hạ Long (có niên đại
cách ngày nay khoảng 4.000 năm).
● Di chỉ khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên
Di tích Khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên nằm trên dãy núi Hòn Hai có địa hình rất phức tạp,
phân bố trên diện tích hơn 10.000m2 nằm ở phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long.
Các nhà khoa học đã tìm thấy những hiện vật thuộc giai đoạn muộn của văn hoá
Hạ Long (hậu kì đá mới) có niên đại gần 4000 năm cách ngày nay như: bàn mài rãnh
hình chữ U, rìu, bôn có vai, rìu bôn có vai có nấc, gốm xốp có xương pha vụn nhuyễn
thể... với kĩ thuật chế tác cao mang đậm văn hoá biển đặc trưng nhất của người Hạ Long
cổ xưa.
19
1.3. Di tích lịch sử
● Di tích lịch sử Bạch Đằng
Khu di tích lịch sử Bạch Đằng thuộc thị xã Quảng Yên được xếp hạng di tích quốc gia
đặc biệt năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các nguyên gốc di tích, những bằng
chứng lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
Di tích Bạch Đằng trải rộng trên
phạm vi 380ha, bên dòng sông Bạch
Đằng, sông Chanh, sông Rút thuộc địa
phận thị xã Quảng Yên và thành phố
Uông Bí gồm 11 điểm di tích: Bãi cọc
Yên Giang, Bãi cọc Đồng Vạn Muối,
Bãi cọc Đồng Má Ngựa, Bến đò
Rừng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua
Bà, đình Yên Giang, đình Trung Bản,
đền Trung Cốc thuộc thị xã Quảng
Yên và đình Đền Công, miếu Cu Linh
thuộc khu Đền Công 1, phường Trưng
Vương, thành phố Uông Bí.
Hình 3.4. Bãi cọc Yên Giang, thị xã Quảng Yên
● Di tích lịch sử đền Cửa Ông
Đền Cửa Ông thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả và Đền Cặp Tiên thuộc xã
Đông Xá, huyện Vân Đồn. Theo sử sách ghi chép, có thể khẳng định đền Cửa Ông được
khởi dựng, tồn tại qua hơn 100 năm. Đền Cửa Ông là một quần thể các công trình tín
ngưỡng đa dạng gồm đền, chùa, lăng, phủ thờ Mẫu. Trong đó đền Thượng thờ Đức Ông
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, gia quyến, cận thần của Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn.
Di tích lịch sử đền Cửa Ông đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc
gia đặc biệt vào năm 2017.
Hình 3.5. Đền Cửa Ông.
20
● Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô
Nằm ở trung tâm thị trấn Cô Tô, khu di tích lịch sử Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô bao
gồm các hạng mục: Tượng đài Bác Hồ, đền thờ Bác Hồ, Dốc Khoai, ao cá, Nhà lưu niệm
và cánh đồng muối.
Vào ngày 9-5-1961, Bác Hồ ra
thăm đảo Cô Tô. Tháng 1-1962,
khi Bác trở lại thăm vùng Đông
Bắc, thể theo nguyện vọng của
Nhân dân tỉnh nhà, lãnh đạo
tỉnh Quảng Ninh, Uỷ ban Hành
chính tỉnh Hải Ninh khi ấy đã
xin phép Bác cho dựng tượng
Người trên đảo Cô Tô và được
Bác đồng ý. Điều đặc biệt, Cô Tô
là nơi đầu tiên và duy nhất được
Bác Hồ cho phép dựng tượng khi
Người còn sống.
1.4. Di tích kiến trúc nghệ thuật
● Cụm Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đình Quan Lạn
Công trình kiến trúc tiêu biểu đình Quan Lạn nằm ngay trên bến tàu thuyền thuộc trung
tâm xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn. Đình được xây dựng theo kiểu hình chữ Công bao
gồm gian bái đường, gian ống muống (nối giữa bái đường với hậu cung) và gian hậu cung.
Mái đình lợp bằng ngói vẩy; trên nóc mái có đắp trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt;
các đầu đao uốn cong.
Hình 3.7. Đình và nghè Quan Lạn.
21
● Đình Trà Cổ
Theo hồ sơ khoa học xếp hạng của di tích, Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê (năm
1461). Năm 1974, đình Trà Cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể
thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia.
Hình 3.8. Đình Trà Cổ, khu Nam Thọ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái.
1.5. Một số di sản thiên
nhiên, di sản phức hợp
tiêu biểu trên địa bàn
● Khu di tích lịch sử và
danh thắng Yên Tử
Chùa Yên Tử gắn liền
với tên tuổi Phật hoàng Trần
Nhân Tông (1258-1308) dài
gần 20 km theo tuyến đường
từ Dốc Đỏ (chùa Bí Thượng)
đến đỉnh núi Yên Tử (chùa
Đồng), thuộc địa bàn phường
Phương Đông, xã Thượng
Yên Công, thành phố Uông
Bí và xã Hồng Thái Đông, thị
xã Đông Triều. Khu di tích
và danh thắng Yên Tử là một
quần thể các công trình kiến trúc gồ...
Nguyễn Văn Tuế (Tổng Chủ biên) - Nguyễn Văn Tùng (Chủ biên)
Lê Thị Sông Hương - TRƯƠNG THIẾU HUYỀN - Dương Thị Oanh
Nguyễn Chiến Thắng - Nguyễn Thị Thanh Thủy
Tài liệu
Giáo dục địa phương
Tỉnh Quảng Ninh
Lớ p
10
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Bài
Lời nói đầu
Chủ đề 1
Văn hoá, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
Bài 1
Quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh
Bài 2
Văn học dân gian tỉnh Quảng Ninh
Bài 3
Di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bài 4
Mối quan hệ giữa các di tích, di sản, danh thắng với
Trang
3
4
9
17
28
sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Quảng Ninh
Bài 5
Các dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Bài 6
Thực hành lịch sử - tái hiện lịch sử
Chủ đề 2
ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG
Bài 7
Vị trí địa lí, đặc điểm lãnh thổ tỉnh Quảng Ninh
Bài 8
Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Ninh
Bài 9
Đặc điểm dân cư và xã hội của tỉnh Quảng Ninh
Chủ đề 3
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
Bài 10
Quy tắc ứng xử nơi công cộng
Bài 11
Hệ thống chính quyền tỉnh Quảng Ninh
Chủ đề 4
MÔI TRƯỜNG
Bài 12
Đa dạng hệ sinh thái và sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh
34
40
44
49
58
65
72
79
LỜI NÓI ĐẦU
Các em học sinh thân mến!
Trên tay các em là cuốn "Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Quảng Ninh
lớp 10". Với 4 chủ đề, các em sẽ được tìm hiểu thêm và sâu hơn về các
vấn đề: Văn hoá, lịch sử truyền thống; Địa lí địa phương; Chính trị - xã hội;
Môi trường của địa phương.
Thông qua hoạt động trong các chủ đề, các em sẽ được trang bị những
tri thức cơ bản về Quảng Ninh. Qua đó, các em được phát triển những
năng lực và phẩm chất cần thiết, được bồi đắp tình yêu quê hương,
đất nước.
Cuốn sách sẽ đồng hành với các em trong suốt năm học đầu tiên ở
Trung học phổ thông. Hi vọng các em sẽ yêu thích các nội dung trong
sách, say mê học tập, trải nghiệm, biết vận dụng, liên hệ để hiểu rõ hơn
những vấn đề của địa phương và thêm trân trọng truyền thống quê hương
Quảng Ninh.
Cuốn sách được biên soạn lần đầu nên khó tránh khỏi những thiếu sót,
rất mong nhận được ý kiến góp ý của các cán bộ quản lí, giáo viên, phụ
huynh và các em học sinh để chất lượng cuốn sách ngày càng tốt hơn.
CÁC TÁC GIẢ
3
Chủ đề 1
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
bài 1
QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP
TỈNH QUẢNG NINH
Mục tiêu
Biết được quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh (các mốc thời gian,
tên gọi; ý nghĩa sự kiện ngày 30-10-1963).
Trình bày được nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi địa giới hành chính
và tên gọi của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kì lịch sử.
Tự hào và trân trọng những đóng góp của các thế hệ đi trước đối với
việc thành lập và phát triển tỉnh Quảng Ninh; ý thức được trách nhiệm
và có hành động cụ thể góp phần xây dựng và phát triển địa phương.
mở đầu
Quảng Ninh ngày nay là một trong những cực tăng trưởng kinh tế toàn diện
của phía bắc Tổ quốc. Vùng đất và tên gọi Quảng Ninh có từ bao giờ? Tỉnh
Quảng Ninh đã bao nhiêu lần thay đổi tên? Tên gọi Quảng Ninh gợi cho em những
suy nghĩ gì?
hình thành kiến thức mới
1. Quảng Ninh trước thế kỉ XX
Thời gian
Thuộc nhà nước
Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)
2879-258 TCN
Văn Lang
Bộ Ninh Hải
257-208 TCN
Âu Lạc
Bộ Ninh Hải
207-111 TCN
Nam Việt
4
Bộ Ninh Hải
(vùng Đông Triều thuộc bộ Dương Tuyền)
Thời gian
Thuộc nhà nước
Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)
111 TCN-25
Tây Hán
25-40
Đông Hán
4043
Quận Giao Chỉ
(chính quyền tự chủ Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và Khúc Dương)
người Việt)
43-244
Đông Hán
244-248
Nhà Ngô
248-264
Quận Giao Chỉ
Thuộc quận Quận Giao Chỉ (hai huyện An Định và Khúc
(chính quyền tự chủ
Dương)
người Việt)
264-265
Nhà Ngô
Nhà Ngụy
Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và
Khúc Dương)
Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và Khúc Dương)
Thuộc quận Quận Giao Chỉ (hai huyện An Định và Khúc
Dương)
265-279
Nhà Ngô
280-420
Nhà Tấn
420-479
Lưu Tống
479-507
Nhà Tề
507-543
Nhà Lương
Thuộc châu Hoàng – quận Ninh Hải
544-603
Vạn Xuân
Quận Hải Ninh
603-617
618-713
Nhà Tuỳ
Thuộc quận Giao Chỉ gồm huyện An Định và một phần
huyện Khúc Dương
Thuộc trấn Hải Môn
Trấn Triều Dương
713-722
Chính quyền tự chủ
Trấn Triều Dương
người Việt
722-791
Nhà Đường
791-802
Chính quyền tự chủ
Trấn Triều Dương
người Việt
802-905
Nhà Đường
905-907
Chính quyền tự chủ
người Việt
907-922
Hậu Lương
923-936
Hậu Đường
937-938
Hậu Tấn
939-1009
Đại Cồ Việt
Trấn Triều Dương
Trấn Triều Dương
Trấn Triều Dương
Thuộc Châu Lục (gồm hai huyện Hoa Thanh, Ninh Hải);
vùng Đông Triều thuộc Châu Giao (Huyện Nam Định)
Thuộc Trấn Triều Dương; Vùng Nam Triều thuộc lộ Nam
Sách Giang
5
Thời gian
Thuộc nhà nước
Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)
1010-1241
Đại Việt
Châu Vĩnh An; lập thêm trang Vân Đồn
1242-1284
Đại Việt
Lộ Hải Đông và huyện Đông Triều thuộc phủ Tân Hưng
1285-1396
Đại Việt
Lộ An Bang
1397-1400
Đại Việt
Lộ phủ Tân An
1400-1407
Đại Ngu
Châu Tĩnh An
1407-1427
Đại Ngu
Châu Tĩnh An
1428-1527
Đại Việt
Trấn An Bang và huyện Đông Triều (thời Lê Thái Tổ)
Đạo thừa tuyên An Bang (thời vua Lê Thánh Tông)
1527-1595
Đại Việt
Châu Vĩnh An
1596-1788
Đại Việt
Trấn An Quảng; trấn Yên Quảng
1788-1802
Đại Việt
Trấn Yên Quảng
1802-1906
Việt Nam
Trấn Yên Quảng; trấn Quảng Yên; tỉnh Quảng Yên
1906
Thực dân Pháp
Tỉnh Quảng Yên; thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh
Quảng Yên.
(Nguồn: Địa chí Quảng Ninh, NXB Thế giới, 2001, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh)
Đọc thông tin trên và thực hiện yêu cầu:
1. Em có nhận xét gì về mốc thời gian ra đời của Bộ Ninh Hải?
2. Tên gọi của Quảng Ninh thay đổi theo thời gian và chính quyền quản lí mới nói
lên điều gì?
2. Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963
Đầu thế kỉ XX, tỉnh Quảng Yên bao gồm cả khu Hòn Gai và châu Hải Ninh.
Năm1906, thực dân Pháp thống trị thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh Quảng Yên.
Để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, tỉnh Quảng Yên lại được tách,
nhập và thay đổi tên gọi: Tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai (năm 1946), nhập lại
thành Liên tỉnh Quảng Hồng (năm 1947). Đến năm 1948 lại được tách ra thành Đặc
khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Năm 1955, sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng, trên cơ sở
sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Sau khi hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ
6
khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã lãnh đạo Nhân dân bắt tay vào khôi phục
kinh tế, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển tỉnh về mọi mặt.
Theo nguyện vọng của Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày
30-10-1963, Quốc hội đã phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành
tỉnh Quảng Ninh. Ngày 18-11-1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định hợp nhất
hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh thành một Đảng bộ là “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh”.
Cùng với việc hợp nhất hai Đảng bộ, các cơ quan nhà nước của hai tỉnh cũng lần lượt được
hợp nhất thành một.
Như vậy, từ cuối năm 1963, lịch sử Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải
Ninh bước sang một trang mới, hai tỉnh đã được hợp nhất thành một tỉnh và vinh dự được
Bác Hồ đặt tên là tỉnh Quảng Ninh.
Giữa năm 1963, việc hợp nhất hai địa phương Hồng Quảng và Hải Ninh đã được
Trung ương quyết định. Việc đặt tên tỉnh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng Nhân dân
hai nơi tự lựa chọn… Bác đã hỏi ý kiến nhiều đồng chí, Bác đề nghị lấy chữ cuối của tỉnh
Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh, vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại
có nhiều nghĩa. “Quảng” là rộng lớn, “Ninh” là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một
vùng rộng lớn, yên vui, bền vững. Ông cha ta đã chẳng từng đặt những tên An Bang, Ninh
Hải, Hải Ninh, An Quảng, Quảng Yên đó sao?… Chỉ một cái tên tưởng đơn giản mà Bác
đã suy nghĩ và gửi gắm vào đó bao điều!.
(Theo lời kể của đồng chí Hoàng Chính, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hải Ninh năm 1946-1948, 1955-1963;
nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Ninh năm 1964-1969)
Tỉnh Quảng Ninh (tháng 10 năm 1963) gồm 3 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí
và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối,
Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.
Từ khi thành lập đến nay, Quảng Ninh không ngừng lớn mạnh, phát triển toàn diện,
hiệu quả và bền vững.
1. Lập bảng thống kê thời gian và tên gọi Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến
năm 1963.
2. Nêu ý nghĩa của ngày 30-10-1963 đối với Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
7
luyện tập
1. Vẽ sơ đồ thể hiện các mốc thời gian gắn với tên gọi Quảng Ninh qua các thời kì lịch
sử (giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963).
2. Nêu cảm nghĩ của em về việc Bác Hồ đặt tên cho tỉnh là Quảng Ninh.
vận dụng
1. Quan sát bảng số liệu thống kê. Nêu nhận xét về sự phát triển của các đơn vị hành
chính và dân số của tỉnh Quảng Ninh từ năm 1963 đến nay.
Nội dung
Tổng số đơn vị
hành chính
Dân số
Năm 1963
Năm 2020
Tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị
hành chính gồm 3 thị xã: Hồng
Gai, Cẩm Phả, Uông Bí và 11
huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu,
Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập,
Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ,
Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.
Tỉnh Quảng Ninh có 13 đơn vị hành
chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 4
thành phố (Hạ Long, Móng Cái, Cẩm
Phả, Uông Bí), 2 thị xã (Quảng Yên,
Đông Triều), 7 huyện (Hải Hà, Đầm Hà,
Bình Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân
Đồn, Cô Tô) với 177 đơn vị hành chính
cấp xã (98 xã, 72 phường, 7 thị trấn).
139.596 người
1.320.324 người
2. Giới thiệu quá trình thành lập huyện hoặc thị xã, thành phố, khu kinh tế nơi em
đang sống và học tập.
8
bài
2
VĂN HỌC DÂN GIAN tỉnh QUẢNG NINH
Mục tiêu
Thuyết minh được những nét khái quát về văn học
dân gian Quảng Ninh.
Lựa chọn và thuyết trình được một vấn đề của văn
học dân gian Quảng Ninh.
Có kĩ năng đọc hiểu một số tác phẩm văn học
dân gian tiêu biểu của Quảng Ninh.
mở đầu
Lựa chọn: Kể tên một truyện cổ hoặc đọc một bài vè, một câu tục ngữ, một câu
ca dao về Quảng Ninh mà em biết.
hình thành kiến thức mới
I. Vài nét khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh
1. Bối cảnh hình thành và phát triển văn học dân gian Quảng Ninh
Quảng Ninh có miền núi, trung du, đồng bằng, vùng ven biển, vùng biển với nhiều
thành phần dân tộc cùng chung sống. Nghiên cứu văn học dân gian Quảng Ninh cho thấy,
mỗi vùng miền nêu trên đều trở thành những “cái nôi” phát triển văn học dân gian. Tuỳ
theo thành phần dân tộc và đặc thù văn hoá mà ở mỗi vùng miền, văn học dân gian có nét
đặc sắc riêng. Quảng Ninh không chỉ có văn học dân gian của người Kinh mà còn có văn
học dân gian của các dân tộc ít người. Bởi thế, văn học dân gian của Quảng Ninh có sự đa
dạng về thể loại, đề tài, nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện. Tuy nhiên, bên cạnh nét
đặc sắc riêng, văn học dân gian ở các vùng miền Quảng Ninh đều có điểm chung. Đó là,
các tác phẩm văn học dân gian phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như phần nào lịch sử
hình thành và phát triển của Quảng Ninh, phản ánh tâm tư tình cảm cũng như những kinh
nghiệm trong lao động sản xuất của người Quảng Ninh. Văn học dân gian còn là nguồn
nuôi dưỡng văn học viết, góp phần làm cho văn học Quảng Ninh nói chung trở nên phong
phú, đa dạng và đậm đà bản sắc riêng.
9
Bên cạnh sự đa dạng về thể loại, về đề tài, về nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện,
điểm chung của văn học dân gian Quảng Ninh là gì?
2. Các thể loại văn học dân gian tiêu biểu ở Quảng Ninh
2.1. Ca dao
Quảng Ninh có một kho tàng ca dao lớn về số lượng và giá trị nội dung tư tưởng, phản
ánh đời sống tâm tư tình cảm của người Quảng Ninh trong mối quan hệ giữa con người
với con người, con người với cuộc sống và con người với thiên nhiên, trong đó có một
số nội dung cơ bản sau:
– Vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên:
(1) Cửa Gỗ lại có hang Luồn
Thâu kênh Bồ Lội tới miền Tuần Châu
Nào nào Cửa Lục nơi đâu
Cửa Lục lại có lối thâu Kênh Đồng.
(2) Vua Thánh Tông trị vì thiên lí
Đặt bài thơ còn để lại đây
Miếu Đức Ông ở nơi Cửa Suốt
Khách vãng lai lần lượt cúng dâng
Vạn Hoa chốn ấy ngát lừng
Cặp Tiên có giếng giữa rừng trong thay.
Qua Soi Dây, bắt sang Ghềnh Đám
Tới Hòn Quay sẽ tạm nghỉ ngơi
Trông ra Hòn Gạc xa vời
Kìa voi Hà Nứa, kìa voi Đầm Bầu
Khe càng sâu lắm truông ở giữa
Qua Dù Dì tới cửa Tân Yên
Khen ai khéo đặt cho nên
Một bên Vũng Vật, một bên Vua Bà...
(Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng,
Ti Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh, 1980)
10
– Nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần qua việc tái hiện các truyền thống văn hoá,
lễ hội. Tiêu biểu là cảnh lễ hội miếu Tiên Công vào ngày mồng bảy tháng giêng:
Mồng bảy hội miếu Tiên Công
Dưới già đánh vật, trên rồng thi bay
Đêm thì hát đúm vui thay
Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.
Và lễ hội Yên Tử bắt đầu ngày 10 tháng giêng (âm lịch) kéo dài đến hết tháng ba:
Trăm năm tích đức tu hành,
Chưa về Yên Tử, chưa thành quả tu.
– Vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi:
(1) Trăm năm một cuộc tình duyên
Phải đâu thăm ván bán thuyền cho qua
Một lời đã nói cùng ta
Đừng như bãi sú vào ra trăm đường
Đã thương thì một lòng thương
Đừng như tép lẫn vãi đường vịt ăn.
(2) Trên rừng ríu rít chim kêu
Cửa lò róc rách suối reo đêm ngày
Thương nhau ta đứng ở đây
Nước non là bạn cỏ cây là tình.
(Ca dao Vùng mỏ)
(3) Yêu nhau nước đựng sàng không lọt
Ghét nhau nước đựng chậu còn trôi
Yêu nhau thì mười ngày đường cũng gần
Ghét nhau nhà trên nhà dưới vẫn xa.
(Ca dao dân tộc Tày)
– Sự lầm than, cơ cực của người phu mỏ thời kì thực dân Pháp khai thác thuộc địa. Họ
quanh năm ăn đói mặc rét, bị bóc lột thậm tệ, cuộc sống tối tăm:
11
(1) Oằn lưng đội thúng than đầy
Nửa lon gạo hẩm suốt ngày cầm hơi.
(2) Lên tầng khuỵu gối đun xe
Gò lưng mửa mật nắng hè cháy da.
(3) Ai về tôi nhắn câu này
Cu li Cẩm Phả đi giày bằng rơm
Bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông
“Đờ suy” là nón, gái không dám nhìn.
(4) Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát
Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông
Ai ơi, đứng lại mà trông
Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già
Việc gì mà rủ nhau ra
Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.
(Ca dao Vùng mỏ)
Nhìn chung, qua ca dao, có thể nhận thấy đời sống tâm hồn của người Quảng Ninh với
nhiều cung bậc, màu sắc gắn với mỗi hoàn cảnh sống. Dù cuộc sống xưa kia còn nhiều cơ
cực, nhưng vượt lên điều đó, người Quảng Ninh vốn giàu nghị lực sống và có tâm hồn lãng
mạn vẫn luôn thể hiện một tình yêu tha thiết với cuộc sống.
2.2. Vè
Qua hình thức văn vần, các bài vè thường nói về những nhân vật và sự kiện tại các địa
phương. Đáng chú ý có những bài vè: vè Trần Hưng Đạo khao quân, vè chiến khu Đông
Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng, vè Móng Cái giành chính quyền, chùm vè về đời sống
người thợ mỏ và chùm vè đi lính ở Vân Hải.
Vè Trần Hưng Đạo khao quân kể về việc Trần Hưng Đạo khao quân một bữa cháo hoa để
nhắc nhở quân sĩ không quên dân trăm họ đang đói khổ trong tình cảnh bị giặc ngoại xâm cướp
bóc, từ đó thức tỉnh lòng căm thù giặc, khích lệ ý chí chiến đấu đánh tan kẻ thù xâm lược.
Vè Móng Cái giành chính quyền, vè chiến khu Đông Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng kể
về những con người và sự kiện đáng nhớ trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
12
Bên cạnh những bài vè là sáng tác của tập thể, Quảng Ninh còn có những bài vè do cá
nhân sáng tác. Nổi tiếng là vè ông đĩ Tràng ở đảo Vân Hải (huyện Vân Đồn). Ông đĩ Tràng
là người sáng tác những bài vè nổi tiếng; ông có con gái đầu lòng tên là Tràng, người ta
lấy tên con gái ông để gọi ông theo cách gọi của người xưa. Vè ông đĩ Tràng hài hước, kể
những chuyện như mấy cô đi đào mồi nước trôi mất váy, chuyện ông ba vợ mà phải nằm
không, chuyện các ông chức dịch thu tiền dân sửa đình Quan Lạn nhưng rồi dùng tiền đó để
ăn uống, chia chác... Cùng với vè ông đĩ Tràng còn có vè cụ Bầm. Cụ ở xã Hiệp Hoà, thị xã
Quảng Yên, thuộc dòng họ Vũ Văn nhưng có chức “Lý mua” nên được gọi là cụ Lý Bầm.
Cụ có một số bài vè nổi tiếng: vè hội đồng Bống, Bớp; vè đắp đập sông Khoai; vè Pháp
đánh thành Quảng Yên; vè Cung Đình Vận; vè phá chùa; vè cha Bằng... Những bài vè của
cụ tố cáo bộ mặt xấu xa, thối nát của bọn cường hào, kì mục tại địa phương cũng như sự tàn
ác của thực dân Pháp xâm lược.
Ông Pháp Thất ở khu Cẩm Phả có bài Vè đình công năm băm sáu với 317 câu. Bài vè
được ông sáng tác, khi cuộc đình công của thợ mỏ Cẩm Phả tháng 11 năm 1936 thắng
lợi. Nội dung bài vè trình bày từ nguyên cớ xảy ra cuộc đình công đến khi kết thúc
với những diễn biến cụ thể. Bài vè đã được phổ biến rộng rãi vào thời kì đó. Tên Cai
Hảo – một nhân vật trong bài vè – đã từng dọa bắt ông giải về Hòn Gai, nhưng trước lí
lẽ đanh thép của ông Pháp Thất chúng đã chịu thua. Ngoài giá trị văn học, bài vè còn
là một tài liệu lịch sử về cuộc đấu tranh vang dội của công nhân vùng mỏ trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945.
Cụ bà Phạm Thị Bế ở phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên có bài vè lụt năm Đinh Mão,
kể chuyện vỡ đê Hà Nam và thảm cảnh của dân chúng dưới thời thực dân Pháp. Cụ Bế còn
có một số bài: Vè cải cách ruộng đất; vè vào hợp tác xã nói về các sự kiện cách mạng đáng
nhớ đối với người dân.
Nhìn chung, đối với văn học dân gian Quảng Ninh, vè là thể loại có nhiều thành tựu
đặc sắc, vừa có giá trị hiện thực vừa có nhiều giá trị nhân văn, đáng được lưu truyền
học tập.
2.3. Truyện dân gian
Trước hết phải nói đến những truyện cổ giải thích về nguồn gốc ra đời của những địa
danh cụ thể ở Quảng Ninh. Đó là truyền thuyết về Hạ Long và Bái Tử Long, giải thích về
nguồn gốc ra đời của hàng ngàn đảo đá trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long; là sự tích đảo
Trà Cổ, giải thích về nguồn gốc của những địa danh trên đảo Trà Cổ. Tương tự, còn có các
truyện: Sự tích hang Trinh Nữ, Sự tích Cô Thanh Lảnh, Sự tích sông Khoai, Sự tích hang
Nhà Trò, Sự tích hang Đúc Tiền, Sự tích hang Ma, Sự tích vụng Bạch Tuộc,…
13
Bên cạnh đó, còn một số truyện kể về một số nhân vật gắn với đất và người Quảng Ninh:
Sự tích xã Vô Ngại kể về số phận nhân vật vua Ngại và giải thích giống tre mọc ngược chỉ
có ở đây; Truyện Phạm Nhan kể về sự tích của tên giặc phản quốc Phạm Nhan và sự ra đời
của loài vắt và loài đỉa; Sự tích chùa và suối Giải Oan kể chuyện vua quan nhà Trần; Sự
tích miếu Lê Lợi giải thích sự ra đời của miếu thờ Lê Lợi ở xã Lê Lợi.
Ở các địa phương của Quảng Ninh còn có các câu chuyện ghi nhớ công lao của những
người đã có công khai mở, tạo dựng nên làng xóm quê hương như chuyện về 6 vị tổ ở Trà
Cổ, 25 vị Tiên công gắn liền với vùng đảo Hà Nam.
Nhìn chung, chủ đề xuyên suốt trong các truyện cổ về Quảng Ninh là tinh thần yêu
nước, yêu quê hương tha thiết và ý chí kiên cường của nhân dân Quảng Ninh trong công
cuộc bảo vệ non sông đất nước.
Các truyện dân gian Quảng Ninh, cũng giống như các truyền thuyết, cổ tích nói
chung, đều có yếu tố hoang đường kì ảo, nhưng cốt lõi vẫn là giải thích nguồn gốc
kiến tạo nên địa hình đất đai, trời biển Quảng Ninh; phản ánh hiện thực công cuộc tạo
dựng nên làng xóm quê hương và chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc
lập của Tổ quốc.
II. Đọc hiểu một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh
1. Ca dao
(1) Gió đông nam còn đang hây hẩy
Gió đông vàng lừng lẫy thuyền lên
Giong buồm từ vũng Cặp Tiên
Hôm nay Cặp Vấn tới miền Gãnh Dong
Xôn xao vợ vợ chồng chồng
Trở giời cá nổi cá dông áp bờ
Vui sao vui đến bất ngờ
Cá vào vỡ lưới phải chờ cá ra.
(2) Con ơi nhớ lấy lời cha
Bảo nhau chớ có mà ra chốn này
Chốn này là cảnh đọa đày
Trăm nghìn tai họa gieo ngay vào người
Lò sập đổ, đá rơi, tầng lở
Nào nạn tai xe cộ hằng ngày
Rừng thiêng nước độc khổ thay
14
Ốm đau, bệnh tật, chẳng rày thuốc thang
Muỗi như trấu, mùng màn chẳng có
Lại vắt rừng, thú dữ như rươi
Tay làm miệng chẳng đủ nuôi
Chốn này địa ngục, con ơi, đừng vào!
1. Khái quát chủ đề của từng bài ca dao.
2. Hiện thực cuộc sống được biểu hiện như thế nào qua từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp
tu từ ở mỗi bài ca dao?
3. Tư tưởng, tình cảm của tác giả dân gian được thể hiện qua mỗi bài ca dao.
2. Truyện cổ tích
SỰ TÍCH VỊNH HẠ LONG, BÁI TỬ LONG
Ngày xửa, ngày xưa, lâu lắm rồi, không biết vào thời nào, dân ta đang sống yên lành thì
bỗng kẻ thù ầm ầm kéo tới. Cậy đông người, chúng dùng hàng ngàn thuyền bè hùng hổ vây
kín mặt biển. Chúng nhăm nhăm gươm giáo và mồi lửa chỉ đợi lệnh là đồng loạt tràn lên bờ
giết hết, cướp hết, đốt phá hết.
Dân ta đã ít người, lại chỉ quen hoà bình làm ăn, làm thế nào địch nổi? Ai cũng thề
cảm tử, "giặc đến nhà đàn bà phải đánh" nhưng còn người già và trẻ em sao thoát được
tay giặc, tiếng than khóc vang trời. Chuyện ngang ngược trái đạo lí, trái lẽ trời và tiếng
than khóc động đến thiên đình. Không thể để đất nước con Rồng cháu Tiên bị giày xéo,
tàn phá, sản vật quý báu bị cướp không, dân lành bị tàn sát, trời bèn sai một đàn rồng
lập tức xuống hạ giới giúp dân ta ngăn chặn bước tiến của bọn giặc. Xuống vùng biển
này, ngay trước mũi thuyền giặc, đàn rồng vùng vẫy tạo nên một trận cuồng phong và
phun ra vô vàn châu ngọc. Châu ngọc thoắt biến thành hàng nghìn đảo đá muôn hình
nghìn dáng. Tất cả tạo nên một bức trường thành khổng lồ và bên trong các đảo đá
ngổn ngang làm thành một trận đồ bát quái. Đoàn thuyền giặc bị trận cuồng phong làm
thất điên bát đảo, lại thấy bức trường thành bỗng sừng sững trước mặt, chúng vô cùng
hoảng sợ bèn chen nhau tháo chạy. Trời yên, biển lặng, đất nước lại thanh bình, mọi
người lại vui vẻ làm ăn. Người cấy lúa, người bẫy thú, người bắt cá, cảnh tượng đông
vui tấp nập hơn xưa. Ai cũng quý mến đàn rồng, loài vật mà bao đời ông cha tôn thờ
là thuỷ tổ của mình. Đàn rồng cũng quyến luyến người và cảnh đẹp nơi này xin không
về trời nữa. Ít lâu sau, đàn rồng con ở trên trời nhớ mẹ cũng xuống theo. Từ đó, trong
vùng biển đông bắc nước ta vĩnh viễn hiện hình một vùng đảo đá kì lạ. Người ta đếm
15
được hơn hai nghìn hòn đảo mà không hòn nào giống hòn nào. Mỗi đảo đá như một
hòn non bộ khổng lồ do thợ trời tạc đẽo nên, quý giá như châu ngọc. Chỗ rồng xuống
được mọi người gọi là Hạ Long. Chỗ đàn rồng con xuống sau quỳ lạy mẹ gọi là Bái Tử
Long. Ngày nay, giữa vùng châu ngọc Hạ Long, người ta vẫn thấy ẩn hiện một dáng
rồng, đó là hòn Rồng. Trong vùng Bái Tử Long có một quả núi dài nhô lên mười ngọn,
chín ngọn quay về hướng Hạ Long, một ngọn quay đi hướng khác. Dân gian bảo đó là
mười rồng con và vẫn hát rằng:
Chín con theo mẹ ròng ròng
Còn một con út dốc lòng không theo!
(Tống Khắc Hài sưu tầm và kể)
(Trích trong Ngữ văn địa phương Quảng Ninh, tập 1,
Trương Quốc Trung, Trần Thuý Hạnh, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)
1. Đọc, kể được sự tích trên (tóm tắt diễn biến cốt truyện).
2. Chỉ ra yếu tố kì ảo, hư cấu của truyện.
3. Vì sao Trời cho rồng xuống giúp Nhân dân đánh giặc? Ý nghĩa của sự việc này là gì?
4. Tại sao đánh xong giặc, rồng không về trời nữa?
5. Giải thích ý nghĩa tên gọi Hạ Long, Bái Tử Long.
luyện tập
1. Khái quát nội dung cơ bản của mỗi thể loại: ca dao, vè, truyện cổ tích Quảng Ninh,
mỗi thể loại tóm lược trong khoảng 80 chữ.
2. Căn cứ vào đặc điểm địa lí, lịch sử, giải thích vì sao Quảng Ninh lại có một kho tàng
văn học dân gian phong phú về thể loại và chủ đề/nội dung?
vận dụng
1. Ngoài một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu đã học, em hãy kể tên một số thể loại
văn học dân gian khác ở Quảng Ninh.
2. Sưu tầm thêm một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh và phân tích được vẻ
đẹp của một tác phẩm trong số đó.
3. Thuyết trình về một vấn đề văn học dân gian mà em tâm đắc.
16
bài
3
dI TÍCH, DI SẢN, DANH THẮNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Mục tiêu
Trình bày khái quát được các di tích lịch sử, di sản văn hoá,
danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (cấp huyện, cấp tỉnh,
cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt).
Giới thiệu được một số di sản văn hoá vật thể và phi vật thể
tiêu biểu.
Giới thiệu được một số di sản thiên nhiên, di sản phức hợp.
Giới thiệu được một số danh lam thắng cảnh tiêu biểu.
mở đầu
Em biết những di tích, di sản, danh thắng nào trên địa bản tỉnh Quảng Ninh? Hãy chia
sẻ những hiểu biết của em về những di tích, di sản, danh thắng đó với các bạn.
hình thành kiến thức mới
1. Một số di sản vật thể tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh
1.1.Danh lam thắng cảnh
● Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long
Hình 3.1. Một góc vịnh Hạ Long nhìn từ trên cao.
17
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía đông bắc của Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh
Quảng Ninh; phía tây bắc và bắc kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long,
thành phố Cẩm Phả, đến hết phần biển đảo huyện Vân Đồn; phía đông và phía nam giáp
vịnh Bắc Bộ; phía tây nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng).
Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và thẩm mĩ đặc biệt, ngày 12-8-2009, Thủ
tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng vịnh Hạ Long là Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày
17-12-1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ nhất là Di sản thiên nhiên
thế giới với tiêu chí về vẻ đẹp cảnh quan và ngày 02-12-2000 công nhận lần thứ hai với
tiêu chí về giá trị địa chất – địa mạo.
● Thác Khe Vằn Bình Liêu
Thác Khe Vằn cách thị trấn Bình Liêu về phía đông chừng 15 km. Thác nằm ngay đầu
nguồn suối Lục Ngù, được tạo ra từ mạch nguồn trong núi Thông Châu.
Thác Vằn nghĩa là Thác Mây. Khi đứng ở dưới chân thác nhìn lên, ta sẽ thấy thác đổ
xuống trắng xoá bọt nước, trông như những vầng mây trắng khổng lồ...
Thác Khe Vằn có độ cao
gần 100m với 3 tầng
thác. Mỗi tầng rộng
khoảng 10-15m2, tạo
thành bể nước trong
vắt. Nằm giữa dòng
thác chảy còn có những
phiến đá khổng lồ, nhẵn
bóng, phẳng lì, to như
những chiếc bàn lớn cho
cả chục người ngồi.
Hình 3.2. Thác Khe Vằn.
18
● Rừng ngập mặn Đồng Rui, huyện Tiên Yên
Rừng ngập mặn Đồng Rui được biết đến như lá phổi xanh bảo vệ môi trường,
phòng chống gió bão, triều cường và giải quyết nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội của
địa phương.
Hình 3.3. Rừng ngập mặn Đồng Rui.
1.2. Di tích khảo cổ
● Di chỉ khảo cổ huyện Cô Tô
Các nhà khảo cổ thuộc Viện khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện một di chỉ khảo cổ tại
bãi cát lớn trên con đường từ thị trấn Cô Tô đến xã Ðồng Tiến, huyện đảo Cô Tô. Trên bề
mặt di chỉ, bước đầu, các nhà khảo cổ phát hiện một số hiện vật như Hòn kê (hòn đá có lỗ
vũm trên một hoặc hai mặt) và bàn mài rãnh, đây là dấu hiệu cho thấy có thể huyện đảo Cô
Tô là một trong những địa điểm cư trú của chủ nhân thuộc văn hoá Hạ Long (có niên đại
cách ngày nay khoảng 4.000 năm).
● Di chỉ khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên
Di tích Khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên nằm trên dãy núi Hòn Hai có địa hình rất phức tạp,
phân bố trên diện tích hơn 10.000m2 nằm ở phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long.
Các nhà khoa học đã tìm thấy những hiện vật thuộc giai đoạn muộn của văn hoá
Hạ Long (hậu kì đá mới) có niên đại gần 4000 năm cách ngày nay như: bàn mài rãnh
hình chữ U, rìu, bôn có vai, rìu bôn có vai có nấc, gốm xốp có xương pha vụn nhuyễn
thể... với kĩ thuật chế tác cao mang đậm văn hoá biển đặc trưng nhất của người Hạ Long
cổ xưa.
19
1.3. Di tích lịch sử
● Di tích lịch sử Bạch Đằng
Khu di tích lịch sử Bạch Đằng thuộc thị xã Quảng Yên được xếp hạng di tích quốc gia
đặc biệt năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các nguyên gốc di tích, những bằng
chứng lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
Di tích Bạch Đằng trải rộng trên
phạm vi 380ha, bên dòng sông Bạch
Đằng, sông Chanh, sông Rút thuộc địa
phận thị xã Quảng Yên và thành phố
Uông Bí gồm 11 điểm di tích: Bãi cọc
Yên Giang, Bãi cọc Đồng Vạn Muối,
Bãi cọc Đồng Má Ngựa, Bến đò
Rừng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua
Bà, đình Yên Giang, đình Trung Bản,
đền Trung Cốc thuộc thị xã Quảng
Yên và đình Đền Công, miếu Cu Linh
thuộc khu Đền Công 1, phường Trưng
Vương, thành phố Uông Bí.
Hình 3.4. Bãi cọc Yên Giang, thị xã Quảng Yên
● Di tích lịch sử đền Cửa Ông
Đền Cửa Ông thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả và Đền Cặp Tiên thuộc xã
Đông Xá, huyện Vân Đồn. Theo sử sách ghi chép, có thể khẳng định đền Cửa Ông được
khởi dựng, tồn tại qua hơn 100 năm. Đền Cửa Ông là một quần thể các công trình tín
ngưỡng đa dạng gồm đền, chùa, lăng, phủ thờ Mẫu. Trong đó đền Thượng thờ Đức Ông
Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, gia quyến, cận thần của Hưng Đạo Đại Vương
Trần Quốc Tuấn.
Di tích lịch sử đền Cửa Ông đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc
gia đặc biệt vào năm 2017.
Hình 3.5. Đền Cửa Ông.
20
● Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô
Nằm ở trung tâm thị trấn Cô Tô, khu di tích lịch sử Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô bao
gồm các hạng mục: Tượng đài Bác Hồ, đền thờ Bác Hồ, Dốc Khoai, ao cá, Nhà lưu niệm
và cánh đồng muối.
Vào ngày 9-5-1961, Bác Hồ ra
thăm đảo Cô Tô. Tháng 1-1962,
khi Bác trở lại thăm vùng Đông
Bắc, thể theo nguyện vọng của
Nhân dân tỉnh nhà, lãnh đạo
tỉnh Quảng Ninh, Uỷ ban Hành
chính tỉnh Hải Ninh khi ấy đã
xin phép Bác cho dựng tượng
Người trên đảo Cô Tô và được
Bác đồng ý. Điều đặc biệt, Cô Tô
là nơi đầu tiên và duy nhất được
Bác Hồ cho phép dựng tượng khi
Người còn sống.
1.4. Di tích kiến trúc nghệ thuật
● Cụm Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đình Quan Lạn
Công trình kiến trúc tiêu biểu đình Quan Lạn nằm ngay trên bến tàu thuyền thuộc trung
tâm xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn. Đình được xây dựng theo kiểu hình chữ Công bao
gồm gian bái đường, gian ống muống (nối giữa bái đường với hậu cung) và gian hậu cung.
Mái đình lợp bằng ngói vẩy; trên nóc mái có đắp trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt;
các đầu đao uốn cong.
Hình 3.7. Đình và nghè Quan Lạn.
21
● Đình Trà Cổ
Theo hồ sơ khoa học xếp hạng của di tích, Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê (năm
1461). Năm 1974, đình Trà Cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể
thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia.
Hình 3.8. Đình Trà Cổ, khu Nam Thọ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái.
1.5. Một số di sản thiên
nhiên, di sản phức hợp
tiêu biểu trên địa bàn
● Khu di tích lịch sử và
danh thắng Yên Tử
Chùa Yên Tử gắn liền
với tên tuổi Phật hoàng Trần
Nhân Tông (1258-1308) dài
gần 20 km theo tuyến đường
từ Dốc Đỏ (chùa Bí Thượng)
đến đỉnh núi Yên Tử (chùa
Đồng), thuộc địa bàn phường
Phương Đông, xã Thượng
Yên Công, thành phố Uông
Bí và xã Hồng Thái Đông, thị
xã Đông Triều. Khu di tích
và danh thắng Yên Tử là một
quần thể các công trình kiến trúc gồ...
 





