TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

LIÊN KẾT CỔNG THÔNG TIN HỌC LIỆU SỐ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Menu chức năng 15

    Menu chức năng 18

    Menu chức năng 19

    Menu chức năng 20

    Menu chức năng 21

    Menu chức năng 22

    Menu chức năng 23

    Menu chức năng 24

    GIỚI THIỆU WEBSITE HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

    Kính chào cô, thầy và các em học sinh thân mến, Thật trân trọng khi được giới thiệu đến thầy – cô – các em một bức tranh văn hóa đọc đặc sắc của trang học liệu điện tử tại Thư viện Trường THPT Bãi Cháy, nơi lưu giữ và lan tỏa tri thức đến mọi người. Dù không sử dụng một nền tảng thương mại cụ thể, trang học liệu điện tử của nhà trường là một “ngôi nhà” số sinh động, nơi tri thức hội tụ, vốn sách và tài liệu được chuẩn bị công phu, để phục vụ hiệu quả công tác giảng dạy – học tập. Không gian này mang lại cảm giác gần gũi, đồng hành cùng giáo viên – học sinh trên hành trình khám phá và hiện thực hóa kiến thức. Trang web tạo ấn tượng rõ ràng bằng giao diện thân thiện, dễ điều hướng. Những mục như “Tài liệu học tập”, “Sách giáo khoa”, “Báo cáo hoạt động thư viện” được sắp xếp khoa học, giúp người sử dụng dễ tìm nội dung cần tra cứu. Dữ liệu phong phú trải dài từ sách tham khảo, đề thi, bài giảng, mẫu báo cáo cho đến kế hoạch phát triển văn hóa đọc — tất cả như những viên gạch trí tuệ, dựng nên nền tảng vững chắc cho quá trình học tập. Điểm nhấn của trang là sự chú trọng vào việc phục vụ trực tuyến, một bước tiến thông minh theo xu hướng giáo dục hiện đại: không chỉ cung cấp tài nguyên, mà còn kết nối cộng đồng nhà trường, tạo nên một môi trường học tập liên tục, mọi lúc, mọi nơi. Bởi vậy, trang học liệu điện tử của THPT Bãi Cháy như một người bạn tri kỷ âm thầm nhưng bền bỉ: cổ vũ học sinh phát triển tự học, hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp, và góp phần tạo nên một không gian giáo dục giàu cảm hứng, giàu sáng tạo. Hy vọng bức viết ngắn này đã truyền tải được tinh thần và ấn tượng mạnh mẽ về giá trị mà trang học liệu mang lại cho nhà trường mình. Trân trọng!

    Ảnh ngẫu nhiên

    Tntna.jpg BANDOTUNHIEN.jpg BANDOHANHCHINH.jpg

    VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

    E-BOOK SÁCH THAM KHẢO

    💕💕 Thư viện là nơi duy nhất bạn có thể vừa được học hỏi, vừa được mơ mộng, và tất cả đều miễn phí.” – Khuyết danh💕Đọc sách chính là đối thoại với những bộ óc vĩ đại nhất của nhân loại.” – René Descartes💕

    Nhà Giả Kim, sách nói về kỹ năng sống, cuốn sách hay nhất mọi thời đại

    Tài Liệu GDDP Quảng Ninh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đặng Thị Quy
    Ngày gửi: 16h:15' 19-08-2025
    Dung lượng: 4.2 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    sở giáo dục và đào tạo quảng ninh
    Nguyễn Văn Tuế (Tổng Chủ biên) - Nguyễn Văn Tùng (Chủ biên)
    Lê Thị Sông Hương - TRƯƠNG THIẾU HUYỀN - Dương Thị Oanh
    Nguyễn Chiến Thắng - Nguyễn Thị Thanh Thủy

    Tài liệu
    Giáo dục địa phương

    Tỉnh Quảng Ninh
    Lớ p

    10

    MỤC LỤC
    NỘI DUNG

    Bài
    Lời nói đầu
    Chủ đề 1

    Văn hoá, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG

    Bài 1

    Quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh

    Bài 2

    Văn học dân gian tỉnh Quảng Ninh

    Bài 3

    Di tích, di sản, danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

    Bài 4

    Mối quan hệ giữa các di tích, di sản, danh thắng với

    Trang
    3

    4
    9
    17
    28

    sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Quảng Ninh

    Bài 5

    Các dân tộc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

    Bài 6

    Thực hành lịch sử - tái hiện lịch sử

    Chủ đề 2

    ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG

    Bài 7

    Vị trí địa lí, đặc điểm lãnh thổ tỉnh Quảng Ninh

    Bài 8

    Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên tỉnh Quảng Ninh

    Bài 9

    Đặc điểm dân cư và xã hội của tỉnh Quảng Ninh

    Chủ đề 3

    CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

    Bài 10

    Quy tắc ứng xử nơi công cộng

    Bài 11

    Hệ thống chính quyền tỉnh Quảng Ninh

    Chủ đề 4

    MÔI TRƯỜNG

    Bài 12

    Đa dạng hệ sinh thái và sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh

    34
    40

    44
    49
    58

    65
    72

    79

    LỜI NÓI ĐẦU
    Các em học sinh thân mến!
    Trên tay các em là cuốn "Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Quảng Ninh
    lớp 10". Với 4 chủ đề, các em sẽ được tìm hiểu thêm và sâu hơn về các
    vấn đề: Văn hoá, lịch sử truyền thống; Địa lí địa phương; Chính trị - xã hội;
    Môi trường của địa phương.
    Thông qua hoạt động trong các chủ đề, các em sẽ được trang bị những
    tri thức cơ bản về Quảng Ninh. Qua đó, các em được phát triển những
    năng lực và phẩm chất cần thiết, được bồi đắp tình yêu quê hương,
    đất nước.
    Cuốn sách sẽ đồng hành với các em trong suốt năm học đầu tiên ở
    Trung học phổ thông. Hi vọng các em sẽ yêu thích các nội dung trong
    sách, say mê học tập, trải nghiệm, biết vận dụng, liên hệ để hiểu rõ hơn
    những vấn đề của địa phương và thêm trân trọng truyền thống quê hương
    Quảng Ninh.
    Cuốn sách được biên soạn lần đầu nên khó tránh khỏi những thiếu sót,
    rất mong nhận được ý kiến góp ý của các cán bộ quản lí, giáo viên, phụ
    huynh và các em học sinh để chất lượng cuốn sách ngày càng tốt hơn.
    CÁC TÁC GIẢ

    3

    Chủ đề 1
    VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG
    bài 1

    QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP
    TỈNH QUẢNG NINH

    Mục tiêu
    Biết được quá trình thành lập tỉnh Quảng Ninh (các mốc thời gian,
    tên gọi; ý nghĩa sự kiện ngày 30-10-1963).
    Trình bày được nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi địa giới hành chính
    và tên gọi của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kì lịch sử.
    Tự hào và trân trọng những đóng góp của các thế hệ đi trước đối với
    việc thành lập và phát triển tỉnh Quảng Ninh; ý thức được trách nhiệm
    và có hành động cụ thể góp phần xây dựng và phát triển địa phương.

    mở đầu

    Quảng Ninh ngày nay là một trong những cực tăng trưởng kinh tế toàn diện
    của phía bắc Tổ quốc. Vùng đất và tên gọi Quảng Ninh có từ bao giờ? Tỉnh
    Quảng Ninh đã bao nhiêu lần thay đổi tên? Tên gọi Quảng Ninh gợi cho em những
    suy nghĩ gì?
    hình thành kiến thức mới

    1. Quảng Ninh trước thế kỉ XX
    Thời gian

    Thuộc nhà nước

    Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)

    2879-258 TCN

    Văn Lang

    Bộ Ninh Hải

    257-208 TCN

    Âu Lạc

    Bộ Ninh Hải

    207-111 TCN

    Nam Việt

    4

    Bộ Ninh Hải
    (vùng Đông Triều thuộc bộ Dương Tuyền)

    Thời gian

    Thuộc nhà nước

    Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)

    111 TCN-25

    Tây Hán

    25-40

    Đông Hán

    4043

    Quận Giao Chỉ
    (chính quyền tự chủ Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và Khúc Dương)
    người Việt)

    43-244

    Đông Hán

    244-248

    Nhà Ngô

    248-264

    Quận Giao Chỉ
    Thuộc quận Quận Giao Chỉ (hai huyện An Định và Khúc
    (chính quyền tự chủ
    Dương)
    người Việt)

    264-265

    Nhà Ngô
    Nhà Ngụy

    Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và
    Khúc Dương)

    Quận Giao Chỉ (gồm 2 huyện An Định và Khúc Dương)

    Thuộc quận Quận Giao Chỉ (hai huyện An Định và Khúc
    Dương)

    265-279

    Nhà Ngô

    280-420

    Nhà Tấn

    420-479

    Lưu Tống

    479-507

    Nhà Tề

    507-543

    Nhà Lương

    Thuộc châu Hoàng – quận Ninh Hải

    544-603

    Vạn Xuân

    Quận Hải Ninh

    603-617
    618-713

    Nhà Tuỳ

    Thuộc quận Giao Chỉ gồm huyện An Định và một phần
    huyện Khúc Dương

    Thuộc trấn Hải Môn
    Trấn Triều Dương

    713-722

    Chính quyền tự chủ
    Trấn Triều Dương
    người Việt

    722-791

    Nhà Đường

    791-802

    Chính quyền tự chủ
    Trấn Triều Dương
    người Việt

    802-905

    Nhà Đường

    905-907

    Chính quyền tự chủ
    người Việt

    907-922

    Hậu Lương

    923-936

    Hậu Đường

    937-938

    Hậu Tấn

    939-1009

    Đại Cồ Việt

    Trấn Triều Dương

    Trấn Triều Dương
    Trấn Triều Dương

    Thuộc Châu Lục (gồm hai huyện Hoa Thanh, Ninh Hải);
    vùng Đông Triều thuộc Châu Giao (Huyện Nam Định)
    Thuộc Trấn Triều Dương; Vùng Nam Triều thuộc lộ Nam
    Sách Giang
    5

    Thời gian

    Thuộc nhà nước

    Tên gọi (hoặc các đơn vị hành chính)

    1010-1241

    Đại Việt

    Châu Vĩnh An; lập thêm trang Vân Đồn

    1242-1284

    Đại Việt

    Lộ Hải Đông và huyện Đông Triều thuộc phủ Tân Hưng

    1285-1396

    Đại Việt

    Lộ An Bang

    1397-1400

    Đại Việt

    Lộ phủ Tân An

    1400-1407

    Đại Ngu

    Châu Tĩnh An

    1407-1427

    Đại Ngu

    Châu Tĩnh An

    1428-1527

    Đại Việt

    Trấn An Bang và huyện Đông Triều (thời Lê Thái Tổ)
    Đạo thừa tuyên An Bang (thời vua Lê Thánh Tông)

    1527-1595

    Đại Việt

    Châu Vĩnh An

    1596-1788

    Đại Việt

    Trấn An Quảng; trấn Yên Quảng

    1788-1802

    Đại Việt

    Trấn Yên Quảng

    1802-1906

    Việt Nam

    Trấn Yên Quảng; trấn Quảng Yên; tỉnh Quảng Yên

    1906

    Thực dân Pháp

    Tỉnh Quảng Yên; thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh
    Quảng Yên.

    (Nguồn: Địa chí Quảng Ninh, NXB Thế giới, 2001, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh)

    Đọc thông tin trên và thực hiện yêu cầu:
    1. Em có nhận xét gì về mốc thời gian ra đời của Bộ Ninh Hải?
    2. Tên gọi của Quảng Ninh thay đổi theo thời gian và chính quyền quản lí mới nói
    lên điều gì?

    2. Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963
    Đầu thế kỉ XX, tỉnh Quảng Yên bao gồm cả khu Hòn Gai và châu Hải Ninh.
    Năm1906, thực dân Pháp thống trị thành lập tỉnh Hải Ninh tách ra từ tỉnh Quảng Yên.
    Để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn, tỉnh Quảng Yên lại được tách,
    nhập và thay đổi tên gọi: Tỉnh Quảng Yên và Đặc khu Hòn Gai (năm 1946), nhập lại
    thành Liên tỉnh Quảng Hồng (năm 1947). Đến năm 1948 lại được tách ra thành Đặc
    khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Năm 1955, sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân
    Pháp thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh thành lập khu Hồng Quảng, trên cơ sở
    sáp nhập Đặc khu Hòn Gai và tỉnh Quảng Yên. Sau khi hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ
    6

    khu Hồng Quảng và Đảng bộ tỉnh Hải Ninh đã lãnh đạo Nhân dân bắt tay vào khôi phục
    kinh tế, thực hiện hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển tỉnh về mọi mặt.
    Theo nguyện vọng của Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ngày
    30-10-1963, Quốc hội đã phê chuẩn hợp nhất tỉnh Hải Ninh và khu Hồng Quảng thành
    tỉnh Quảng Ninh. Ngày 18-11-1963, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định hợp nhất
    hai Đảng bộ Hồng Quảng và Hải Ninh thành một Đảng bộ là “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh”.
    Cùng với việc hợp nhất hai Đảng bộ, các cơ quan nhà nước của hai tỉnh cũng lần lượt được
    hợp nhất thành một.
    Như vậy, từ cuối năm 1963, lịch sử Đảng bộ và Nhân dân khu Hồng Quảng và tỉnh Hải
    Ninh bước sang một trang mới, hai tỉnh đã được hợp nhất thành một tỉnh và vinh dự được
    Bác Hồ đặt tên là tỉnh Quảng Ninh.
    Giữa năm 1963, việc hợp nhất hai địa phương Hồng Quảng và Hải Ninh đã được
    Trung ương quyết định. Việc đặt tên tỉnh, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Hội đồng Nhân dân
    hai nơi tự lựa chọn… Bác đã hỏi ý kiến nhiều đồng chí, Bác đề nghị lấy chữ cuối của tỉnh
    Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh, ghép lại thành Quảng Ninh, vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ, lại
    có nhiều nghĩa. “Quảng” là rộng lớn, “Ninh” là yên vui, bền vững. Quảng Ninh là một
    vùng rộng lớn, yên vui, bền vững. Ông cha ta đã chẳng từng đặt những tên An Bang, Ninh
    Hải, Hải Ninh, An Quảng, Quảng Yên đó sao?… Chỉ một cái tên tưởng đơn giản mà Bác
    đã suy nghĩ và gửi gắm vào đó bao điều!.
    (Theo lời kể của đồng chí Hoàng Chính, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ Hải Ninh năm 1946-1948, 1955-1963;
    nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Quảng Ninh năm 1964-1969)

    Tỉnh Quảng Ninh (tháng 10 năm 1963) gồm 3 thị xã: Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí
    và 11 huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu, Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập, Đông Triều, Hà Cối,
    Hoành Bồ, Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.
    Từ khi thành lập đến nay, Quảng Ninh không ngừng lớn mạnh, phát triển toàn diện,
    hiệu quả và bền vững.

    1. Lập bảng thống kê thời gian và tên gọi Quảng Ninh từ đầu thế kỉ XX đến
    năm 1963.
    2. Nêu ý nghĩa của ngày 30-10-1963 đối với Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

    7

    luyện tập

    1. Vẽ sơ đồ thể hiện các mốc thời gian gắn với tên gọi Quảng Ninh qua các thời kì lịch
    sử (giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến năm 1963).
    2. Nêu cảm nghĩ của em về việc Bác Hồ đặt tên cho tỉnh là Quảng Ninh.
    vận dụng

    1. Quan sát bảng số liệu thống kê. Nêu nhận xét về sự phát triển của các đơn vị hành
    chính và dân số của tỉnh Quảng Ninh từ năm 1963 đến nay.
    Nội dung

    Tổng số đơn vị
    hành chính

    Dân số

    Năm 1963

    Năm 2020

    Tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị
    hành chính gồm 3 thị xã: Hồng
    Gai, Cẩm Phả, Uông Bí và 11
    huyện: Ba Chẽ, Bình Liêu,
    Cẩm Phả, Đầm Hà, Đình Lập,
    Đông Triều, Hà Cối, Hoành Bồ,
    Móng Cái, Tiên Yên, Yên Hưng.

    Tỉnh Quảng Ninh có 13 đơn vị hành
    chính cấp huyện trực thuộc, bao gồm 4
    thành phố (Hạ Long, Móng Cái, Cẩm
    Phả, Uông Bí), 2 thị xã (Quảng Yên,
    Đông Triều), 7 huyện (Hải Hà, Đầm Hà,
    Bình Liêu, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân
    Đồn, Cô Tô) với 177 đơn vị hành chính
    cấp xã (98 xã, 72 phường, 7 thị trấn).

    139.596 người

    1.320.324 người

    2. Giới thiệu quá trình thành lập huyện hoặc thị xã, thành phố, khu kinh tế nơi em
    đang sống và học tập.

    8

    bài

    2

    VĂN HỌC DÂN GIAN tỉnh QUẢNG NINH
    Mục tiêu
    Thuyết minh được những nét khái quát về văn học
    dân gian Quảng Ninh.
    Lựa chọn và thuyết trình được một vấn đề của văn
    học dân gian Quảng Ninh.
    Có kĩ năng đọc hiểu một số tác phẩm văn học
    dân gian tiêu biểu của Quảng Ninh.

    mở đầu

    Lựa chọn: Kể tên một truyện cổ hoặc đọc một bài vè, một câu tục ngữ, một câu
    ca dao về Quảng Ninh mà em biết.

    hình thành kiến thức mới

    I. Vài nét khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh
    1. Bối cảnh hình thành và phát triển văn học dân gian Quảng Ninh
    Quảng Ninh có miền núi, trung du, đồng bằng, vùng ven biển, vùng biển với nhiều
    thành phần dân tộc cùng chung sống. Nghiên cứu văn học dân gian Quảng Ninh cho thấy,
    mỗi vùng miền nêu trên đều trở thành những “cái nôi” phát triển văn học dân gian. Tuỳ
    theo thành phần dân tộc và đặc thù văn hoá mà ở mỗi vùng miền, văn học dân gian có nét
    đặc sắc riêng. Quảng Ninh không chỉ có văn học dân gian của người Kinh mà còn có văn
    học dân gian của các dân tộc ít người. Bởi thế, văn học dân gian của Quảng Ninh có sự đa
    dạng về thể loại, đề tài, nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện. Tuy nhiên, bên cạnh nét
    đặc sắc riêng, văn học dân gian ở các vùng miền Quảng Ninh đều có điểm chung. Đó là,
    các tác phẩm văn học dân gian phản ánh hiện thực cuộc sống cũng như phần nào lịch sử
    hình thành và phát triển của Quảng Ninh, phản ánh tâm tư tình cảm cũng như những kinh
    nghiệm trong lao động sản xuất của người Quảng Ninh. Văn học dân gian còn là nguồn
    nuôi dưỡng văn học viết, góp phần làm cho văn học Quảng Ninh nói chung trở nên phong
    phú, đa dạng và đậm đà bản sắc riêng.

    9

    Bên cạnh sự đa dạng về thể loại, về đề tài, về nội dung tư tưởng và hình thức thể hiện,
    điểm chung của văn học dân gian Quảng Ninh là gì?

    2. Các thể loại văn học dân gian tiêu biểu ở Quảng Ninh
    2.1. Ca dao
    Quảng Ninh có một kho tàng ca dao lớn về số lượng và giá trị nội dung tư tưởng, phản
    ánh đời sống tâm tư tình cảm của người Quảng Ninh trong mối quan hệ giữa con người
    với con người, con người với cuộc sống và con người với thiên nhiên, trong đó có một
    số nội dung cơ bản sau:
    – Vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên:
    (1) Cửa Gỗ lại có hang Luồn
    Thâu kênh Bồ Lội tới miền Tuần Châu
    Nào nào Cửa Lục nơi đâu
    Cửa Lục lại có lối thâu Kênh Đồng.
    (2) Vua Thánh Tông trị vì thiên lí
    Đặt bài thơ còn để lại đây
    Miếu Đức Ông ở nơi Cửa Suốt
    Khách vãng lai lần lượt cúng dâng
    Vạn Hoa chốn ấy ngát lừng
    Cặp Tiên có giếng giữa rừng trong thay.
    Qua Soi Dây, bắt sang Ghềnh Đám
    Tới Hòn Quay sẽ tạm nghỉ ngơi
    Trông ra Hòn Gạc xa vời
    Kìa voi Hà Nứa, kìa voi Đầm Bầu
    Khe càng sâu lắm truông ở giữa
    Qua Dù Dì tới cửa Tân Yên
    Khen ai khéo đặt cho nên
    Một bên Vũng Vật, một bên Vua Bà...
    (Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng,
    Ti Văn hoá – Thông tin Quảng Ninh, 1980)

    10

    – Nét đẹp trong đời sống văn hoá tinh thần qua việc tái hiện các truyền thống văn hoá,
    lễ hội. Tiêu biểu là cảnh lễ hội miếu Tiên Công vào ngày mồng bảy tháng giêng:
    Mồng bảy hội miếu Tiên Công
    Dưới già đánh vật, trên rồng thi bay
    Đêm thì hát đúm vui thay
    Bên này thi cấy, bên đây đua thuyền.
    Và lễ hội Yên Tử bắt đầu ngày 10 tháng giêng (âm lịch) kéo dài đến hết tháng ba:
    Trăm năm tích đức tu hành,
    Chưa về Yên Tử, chưa thành quả tu.
    – Vẻ đẹp của tình yêu lứa đôi:
    (1) Trăm năm một cuộc tình duyên
    Phải đâu thăm ván bán thuyền cho qua
    Một lời đã nói cùng ta
    Đừng như bãi sú vào ra trăm đường
    Đã thương thì một lòng thương
    Đừng như tép lẫn vãi đường vịt ăn.
    (2) Trên rừng ríu rít chim kêu
    Cửa lò róc rách suối reo đêm ngày
    Thương nhau ta đứng ở đây
    Nước non là bạn cỏ cây là tình.

    (Ca dao Vùng mỏ)

    (3) Yêu nhau nước đựng sàng không lọt
    Ghét nhau nước đựng chậu còn trôi
    Yêu nhau thì mười ngày đường cũng gần
    Ghét nhau nhà trên nhà dưới vẫn xa.

    (Ca dao dân tộc Tày)

    – Sự lầm than, cơ cực của người phu mỏ thời kì thực dân Pháp khai thác thuộc địa. Họ
    quanh năm ăn đói mặc rét, bị bóc lột thậm tệ, cuộc sống tối tăm:

    11

    (1) Oằn lưng đội thúng than đầy
    Nửa lon gạo hẩm suốt ngày cầm hơi.
    (2) Lên tầng khuỵu gối đun xe
    Gò lưng mửa mật nắng hè cháy da.
    (3) Ai về tôi nhắn câu này
    Cu li Cẩm Phả đi giày bằng rơm
    Bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông
    “Đờ suy” là nón, gái không dám nhìn.
    (4) Đồn Cẩm Phả sơn hà bát ngát
    Huyện Hoành Bồ đồi cát mênh mông
    Ai ơi, đứng lại mà trông
    Kìa khe nước độc, nọ ông hùm già
    Việc gì mà rủ nhau ra
    Làm ăn cực khổ nghĩ mà tủi thân.

    (Ca dao Vùng mỏ)

    Nhìn chung, qua ca dao, có thể nhận thấy đời sống tâm hồn của người Quảng Ninh với
    nhiều cung bậc, màu sắc gắn với mỗi hoàn cảnh sống. Dù cuộc sống xưa kia còn nhiều cơ
    cực, nhưng vượt lên điều đó, người Quảng Ninh vốn giàu nghị lực sống và có tâm hồn lãng
    mạn vẫn luôn thể hiện một tình yêu tha thiết với cuộc sống.

    2.2. Vè
    Qua hình thức văn vần, các bài vè thường nói về những nhân vật và sự kiện tại các địa
    phương. Đáng chú ý có những bài vè: vè Trần Hưng Đạo khao quân, vè chiến khu Đông
    Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng, vè Móng Cái giành chính quyền, chùm vè về đời sống
    người thợ mỏ và chùm vè đi lính ở Vân Hải.
    Vè Trần Hưng Đạo khao quân kể về việc Trần Hưng Đạo khao quân một bữa cháo hoa để
    nhắc nhở quân sĩ không quên dân trăm họ đang đói khổ trong tình cảnh bị giặc ngoại xâm cướp
    bóc, từ đó thức tỉnh lòng căm thù giặc, khích lệ ý chí chiến đấu đánh tan kẻ thù xâm lược.
    Vè Móng Cái giành chính quyền, vè chiến khu Đông Triều, vè khóc anh Mạnh Hùng kể
    về những con người và sự kiện đáng nhớ trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 và
    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
    12

    Bên cạnh những bài vè là sáng tác của tập thể, Quảng Ninh còn có những bài vè do cá
    nhân sáng tác. Nổi tiếng là vè ông đĩ Tràng ở đảo Vân Hải (huyện Vân Đồn). Ông đĩ Tràng
    là người sáng tác những bài vè nổi tiếng; ông có con gái đầu lòng tên là Tràng, người ta
    lấy tên con gái ông để gọi ông theo cách gọi của người xưa. Vè ông đĩ Tràng hài hước, kể
    những chuyện như mấy cô đi đào mồi nước trôi mất váy, chuyện ông ba vợ mà phải nằm
    không, chuyện các ông chức dịch thu tiền dân sửa đình Quan Lạn nhưng rồi dùng tiền đó để
    ăn uống, chia chác... Cùng với vè ông đĩ Tràng còn có vè cụ Bầm. Cụ ở xã Hiệp Hoà, thị xã
    Quảng Yên, thuộc dòng họ Vũ Văn nhưng có chức “Lý mua” nên được gọi là cụ Lý Bầm.
    Cụ có một số bài vè nổi tiếng: vè hội đồng Bống, Bớp; vè đắp đập sông Khoai; vè Pháp
    đánh thành Quảng Yên; vè Cung Đình Vận; vè phá chùa; vè cha Bằng... Những bài vè của
    cụ tố cáo bộ mặt xấu xa, thối nát của bọn cường hào, kì mục tại địa phương cũng như sự tàn
    ác của thực dân Pháp xâm lược.
    Ông Pháp Thất ở khu Cẩm Phả có bài Vè đình công năm băm sáu với 317 câu. Bài vè
    được ông sáng tác, khi cuộc đình công của thợ mỏ Cẩm Phả tháng 11 năm 1936 thắng
    lợi. Nội dung bài vè trình bày từ nguyên cớ xảy ra cuộc đình công đến khi kết thúc
    với những diễn biến cụ thể. Bài vè đã được phổ biến rộng rãi vào thời kì đó. Tên Cai
    Hảo – một nhân vật trong bài vè – đã từng dọa bắt ông giải về Hòn Gai, nhưng trước lí
    lẽ đanh thép của ông Pháp Thất chúng đã chịu thua. Ngoài giá trị văn học, bài vè còn
    là một tài liệu lịch sử về cuộc đấu tranh vang dội của công nhân vùng mỏ trước Cách
    mạng tháng Tám năm 1945.
    Cụ bà Phạm Thị Bế ở phường Phong Hải, thị xã Quảng Yên có bài vè lụt năm Đinh Mão,
    kể chuyện vỡ đê Hà Nam và thảm cảnh của dân chúng dưới thời thực dân Pháp. Cụ Bế còn
    có một số bài: Vè cải cách ruộng đất; vè vào hợp tác xã nói về các sự kiện cách mạng đáng
    nhớ đối với người dân.
    Nhìn chung, đối với văn học dân gian Quảng Ninh, vè là thể loại có nhiều thành tựu
    đặc sắc, vừa có giá trị hiện thực vừa có nhiều giá trị nhân văn, đáng được lưu truyền
    học tập.

    2.3. Truyện dân gian
    Trước hết phải nói đến những truyện cổ giải thích về nguồn gốc ra đời của những địa
    danh cụ thể ở Quảng Ninh. Đó là truyền thuyết về Hạ Long và Bái Tử Long, giải thích về
    nguồn gốc ra đời của hàng ngàn đảo đá trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long; là sự tích đảo
    Trà Cổ, giải thích về nguồn gốc của những địa danh trên đảo Trà Cổ. Tương tự, còn có các
    truyện: Sự tích hang Trinh Nữ, Sự tích Cô Thanh Lảnh, Sự tích sông Khoai, Sự tích hang
    Nhà Trò, Sự tích hang Đúc Tiền, Sự tích hang Ma, Sự tích vụng Bạch Tuộc,…

    13

    Bên cạnh đó, còn một số truyện kể về một số nhân vật gắn với đất và người Quảng Ninh:
    Sự tích xã Vô Ngại kể về số phận nhân vật vua Ngại và giải thích giống tre mọc ngược chỉ
    có ở đây; Truyện Phạm Nhan kể về sự tích của tên giặc phản quốc Phạm Nhan và sự ra đời
    của loài vắt và loài đỉa; Sự tích chùa và suối Giải Oan kể chuyện vua quan nhà Trần; Sự
    tích miếu Lê Lợi giải thích sự ra đời của miếu thờ Lê Lợi ở xã Lê Lợi.
    Ở các địa phương của Quảng Ninh còn có các câu chuyện ghi nhớ công lao của những
    người đã có công khai mở, tạo dựng nên làng xóm quê hương như chuyện về 6 vị tổ ở Trà
    Cổ, 25 vị Tiên công gắn liền với vùng đảo Hà Nam.
    Nhìn chung, chủ đề xuyên suốt trong các truyện cổ về Quảng Ninh là tinh thần yêu
    nước, yêu quê hương tha thiết và ý chí kiên cường của nhân dân Quảng Ninh trong công
    cuộc bảo vệ non sông đất nước.
    Các truyện dân gian Quảng Ninh, cũng giống như các truyền thuyết, cổ tích nói
    chung, đều có yếu tố hoang đường kì ảo, nhưng cốt lõi vẫn là giải thích nguồn gốc
    kiến tạo nên địa hình đất đai, trời biển Quảng Ninh; phản ánh hiện thực công cuộc tạo
    dựng nên làng xóm quê hương và chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ nền độc
    lập của Tổ quốc.

    II. Đọc hiểu một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh
    1. Ca dao
    (1) Gió đông nam còn đang hây hẩy
    Gió đông vàng lừng lẫy thuyền lên
    Giong buồm từ vũng Cặp Tiên
    Hôm nay Cặp Vấn tới miền Gãnh Dong
    Xôn xao vợ vợ chồng chồng
    Trở giời cá nổi cá dông áp bờ
    Vui sao vui đến bất ngờ
    Cá vào vỡ lưới phải chờ cá ra.
    (2) Con ơi nhớ lấy lời cha
    Bảo nhau chớ có mà ra chốn này
    Chốn này là cảnh đọa đày
    Trăm nghìn tai họa gieo ngay vào người
    Lò sập đổ, đá rơi, tầng lở
    Nào nạn tai xe cộ hằng ngày
    Rừng thiêng nước độc khổ thay
    14

    Ốm đau, bệnh tật, chẳng rày thuốc thang
    Muỗi như trấu, mùng màn chẳng có
    Lại vắt rừng, thú dữ như rươi
    Tay làm miệng chẳng đủ nuôi
    Chốn này địa ngục, con ơi, đừng vào!

    1. Khái quát chủ đề của từng bài ca dao.
    2. Hiện thực cuộc sống được biểu hiện như thế nào qua từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp
    tu từ ở mỗi bài ca dao?
    3. Tư tưởng, tình cảm của tác giả dân gian được thể hiện qua mỗi bài ca dao.

    2. Truyện cổ tích
    SỰ TÍCH VỊNH HẠ LONG, BÁI TỬ LONG
    Ngày xửa, ngày xưa, lâu lắm rồi, không biết vào thời nào, dân ta đang sống yên lành thì
    bỗng kẻ thù ầm ầm kéo tới. Cậy đông người, chúng dùng hàng ngàn thuyền bè hùng hổ vây
    kín mặt biển. Chúng nhăm nhăm gươm giáo và mồi lửa chỉ đợi lệnh là đồng loạt tràn lên bờ
    giết hết, cướp hết, đốt phá hết.
    Dân ta đã ít người, lại chỉ quen hoà bình làm ăn, làm thế nào địch nổi? Ai cũng thề
    cảm tử, "giặc đến nhà đàn bà phải đánh" nhưng còn người già và trẻ em sao thoát được
    tay giặc, tiếng than khóc vang trời. Chuyện ngang ngược trái đạo lí, trái lẽ trời và tiếng
    than khóc động đến thiên đình. Không thể để đất nước con Rồng cháu Tiên bị giày xéo,
    tàn phá, sản vật quý báu bị cướp không, dân lành bị tàn sát, trời bèn sai một đàn rồng
    lập tức xuống hạ giới giúp dân ta ngăn chặn bước tiến của bọn giặc. Xuống vùng biển
    này, ngay trước mũi thuyền giặc, đàn rồng vùng vẫy tạo nên một trận cuồng phong và
    phun ra vô vàn châu ngọc. Châu ngọc thoắt biến thành hàng nghìn đảo đá muôn hình
    nghìn dáng. Tất cả tạo nên một bức trường thành khổng lồ và bên trong các đảo đá
    ngổn ngang làm thành một trận đồ bát quái. Đoàn thuyền giặc bị trận cuồng phong làm
    thất điên bát đảo, lại thấy bức trường thành bỗng sừng sững trước mặt, chúng vô cùng
    hoảng sợ bèn chen nhau tháo chạy. Trời yên, biển lặng, đất nước lại thanh bình, mọi
    người lại vui vẻ làm ăn. Người cấy lúa, người bẫy thú, người bắt cá, cảnh tượng đông
    vui tấp nập hơn xưa. Ai cũng quý mến đàn rồng, loài vật mà bao đời ông cha tôn thờ
    là thuỷ tổ của mình. Đàn rồng cũng quyến luyến người và cảnh đẹp nơi này xin không
    về trời nữa. Ít lâu sau, đàn rồng con ở trên trời nhớ mẹ cũng xuống theo. Từ đó, trong
    vùng biển đông bắc nước ta vĩnh viễn hiện hình một vùng đảo đá kì lạ. Người ta đếm
    15

    được hơn hai nghìn hòn đảo mà không hòn nào giống hòn nào. Mỗi đảo đá như một
    hòn non bộ khổng lồ do thợ trời tạc đẽo nên, quý giá như châu ngọc. Chỗ rồng xuống
    được mọi người gọi là Hạ Long. Chỗ đàn rồng con xuống sau quỳ lạy mẹ gọi là Bái Tử
    Long. Ngày nay, giữa vùng châu ngọc Hạ Long, người ta vẫn thấy ẩn hiện một dáng
    rồng, đó là hòn Rồng. Trong vùng Bái Tử Long có một quả núi dài nhô lên mười ngọn,
    chín ngọn quay về hướng Hạ Long, một ngọn quay đi hướng khác. Dân gian bảo đó là
    mười rồng con và vẫn hát rằng:
    Chín con theo mẹ ròng ròng
    Còn một con út dốc lòng không theo!
    (Tống Khắc Hài sưu tầm và kể)
    (Trích trong Ngữ văn địa phương Quảng Ninh, tập 1,
    Trương Quốc Trung, Trần Thuý Hạnh, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015)

    1. Đọc, kể được sự tích trên (tóm tắt diễn biến cốt truyện).
    2. Chỉ ra yếu tố kì ảo, hư cấu của truyện.
    3. Vì sao Trời cho rồng xuống giúp Nhân dân đánh giặc? Ý nghĩa của sự việc này là gì?
    4. Tại sao đánh xong giặc, rồng không về trời nữa?
    5. Giải thích ý nghĩa tên gọi Hạ Long, Bái Tử Long.

    luyện tập

    1. Khái quát nội dung cơ bản của mỗi thể loại: ca dao, vè, truyện cổ tích Quảng Ninh,
    mỗi thể loại tóm lược trong khoảng 80 chữ.
    2. Căn cứ vào đặc điểm địa lí, lịch sử, giải thích vì sao Quảng Ninh lại có một kho tàng
    văn học dân gian phong phú về thể loại và chủ đề/nội dung?

    vận dụng

    1. Ngoài một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu đã học, em hãy kể tên một số thể loại
    văn học dân gian khác ở Quảng Ninh.
    2. Sưu tầm thêm một số tác phẩm văn học dân gian Quảng Ninh và phân tích được vẻ
    đẹp của một tác phẩm trong số đó.
    3. Thuyết trình về một vấn đề văn học dân gian mà em tâm đắc.

    16

    bài

    3

    dI TÍCH, DI SẢN, DANH THẮNG
    TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
    Mục tiêu
    Trình bày khái quát được các di tích lịch sử, di sản văn hoá,
    danh thắng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (cấp huyện, cấp tỉnh,
    cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt).
    Giới thiệu được một số di sản văn hoá vật thể và phi vật thể
    tiêu biểu.
    Giới thiệu được một số di sản thiên nhiên, di sản phức hợp.
    Giới thiệu được một số danh lam thắng cảnh tiêu biểu.

    mở đầu

    Em biết những di tích, di sản, danh thắng nào trên địa bản tỉnh Quảng Ninh? Hãy chia
    sẻ những hiểu biết của em về những di tích, di sản, danh thắng đó với các bạn.
    hình thành kiến thức mới

    1. Một số di sản vật thể tiêu biểu của tỉnh Quảng Ninh
    1.1.Danh lam thắng cảnh
    ● Danh lam thắng cảnh vịnh Hạ Long

    Hình 3.1. Một góc vịnh Hạ Long nhìn từ trên cao.
    17

    Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía đông bắc của Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh
    Quảng Ninh; phía tây bắc và bắc kéo dài từ thị xã Quảng Yên, qua thành phố Hạ Long,
    thành phố Cẩm Phả, đến hết phần biển đảo huyện Vân Đồn; phía đông và phía nam giáp
    vịnh Bắc Bộ; phía tây nam giáp đảo Cát Bà (thành phố Hải Phòng).
    Với những giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học và thẩm mĩ đặc biệt, ngày 12-8-2009, Thủ
    tướng Chính phủ đã quyết định xếp hạng vịnh Hạ Long là Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày
    17-12-1994, vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận lần thứ nhất là Di sản thiên nhiên
    thế giới với tiêu chí về vẻ đẹp cảnh quan và ngày 02-12-2000 công nhận lần thứ hai với
    tiêu chí về giá trị địa chất – địa mạo.

    ● Thác Khe Vằn Bình Liêu
    Thác Khe Vằn cách thị trấn Bình Liêu về phía đông chừng 15 km. Thác nằm ngay đầu
    nguồn suối Lục Ngù, được tạo ra từ mạch nguồn trong núi Thông Châu.
    Thác Vằn nghĩa là Thác Mây. Khi đứng ở dưới chân thác nhìn lên, ta sẽ thấy thác đổ
    xuống trắng xoá bọt nước, trông như những vầng mây trắng khổng lồ...

    Thác Khe Vằn có độ cao
    gần 100m với 3 tầng
    thác. Mỗi tầng rộng
    khoảng 10-15m2, tạo
    thành bể nước trong
    vắt. Nằm giữa dòng
    thác chảy còn có những
    phiến đá khổng lồ, nhẵn
    bóng, phẳng lì, to như
    những chiếc bàn lớn cho
    cả chục người ngồi.

    Hình 3.2. Thác Khe Vằn.
    18

    ● Rừng ngập mặn Đồng Rui, huyện Tiên Yên
    Rừng ngập mặn Đồng Rui được biết đến như lá phổi xanh bảo vệ môi trường,
    phòng chống gió bão, triều cường và giải quyết nhiều khó khăn về kinh tế và xã hội của
    địa phương.

    Hình 3.3. Rừng ngập mặn Đồng Rui.

    1.2. Di tích khảo cổ
    ● Di chỉ khảo cổ huyện Cô Tô
    Các nhà khảo cổ thuộc Viện khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện một di chỉ khảo cổ tại
    bãi cát lớn trên con đường từ thị trấn Cô Tô đến xã Ðồng Tiến, huyện đảo Cô Tô. Trên bề
    mặt di chỉ, bước đầu, các nhà khảo cổ phát hiện một số hiện vật như Hòn kê (hòn đá có lỗ
    vũm trên một hoặc hai mặt) và bàn mài rãnh, đây là dấu hiệu cho thấy có thể huyện đảo Cô
    Tô là một trong những địa điểm cư trú của chủ nhân thuộc văn hoá Hạ Long (có niên đại
    cách ngày nay khoảng 4.000 năm).

    ● Di chỉ khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên
    Di tích Khảo cổ Hòn Hai Cô Tiên nằm trên dãy núi Hòn Hai có địa hình rất phức tạp,
    phân bố trên diện tích hơn 10.000m2 nằm ở phường Bạch Đằng, thành phố Hạ Long.
    Các nhà khoa học đã tìm thấy những hiện vật thuộc giai đoạn muộn của văn hoá
    Hạ Long (hậu kì đá mới) có niên đại gần 4000 năm cách ngày nay như: bàn mài rãnh
    hình chữ U, rìu, bôn có vai, rìu bôn có vai có nấc, gốm xốp có xương pha vụn nhuyễn
    thể... với kĩ thuật chế tác cao mang đậm văn hoá biển đặc trưng nhất của người Hạ Long
    cổ xưa.

    19

    1.3. Di tích lịch sử
    ● Di tích lịch sử Bạch Đằng
    Khu di tích lịch sử Bạch Đằng thuộc thị xã Quảng Yên được xếp hạng di tích quốc gia
    đặc biệt năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, gồm các nguyên gốc di tích, những bằng
    chứng lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
    Di tích Bạch Đằng trải rộng trên
    phạm vi 380ha, bên dòng sông Bạch
    Đằng, sông Chanh, sông Rút thuộc địa
    phận thị xã Quảng Yên và thành phố
    Uông Bí gồm 11 điểm di tích: Bãi cọc
    Yên Giang, Bãi cọc Đồng Vạn Muối,
    Bãi cọc Đồng Má Ngựa, Bến đò
    Rừng, đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua
    Bà, đình Yên Giang, đình Trung Bản,
    đền Trung Cốc thuộc thị xã Quảng
    Yên và đình Đền Công, miếu Cu Linh
    thuộc khu Đền Công 1, phường Trưng
    Vương, thành phố Uông Bí.

    Hình 3.4. Bãi cọc Yên Giang, thị xã Quảng Yên

    ● Di tích lịch sử đền Cửa Ông
    Đền Cửa Ông thuộc phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả và Đền Cặp Tiên thuộc xã
    Đông Xá, huyện Vân Đồn. Theo sử sách ghi chép, có thể khẳng định đền Cửa Ông được
    khởi dựng, tồn tại qua hơn 100 năm. Đền Cửa Ông là một quần thể các công trình tín
    ngưỡng đa dạng gồm đền, chùa, lăng, phủ thờ Mẫu. Trong đó đền Thượng thờ Đức Ông
    Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng, gia quyến, cận thần của Hưng Đạo Đại Vương
    Trần Quốc Tuấn.
    Di tích lịch sử đền Cửa Ông đã được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích quốc
    gia đặc biệt vào năm 2017.

    Hình 3.5. Đền Cửa Ông.
    20

    ● Khu di tích lưu niệm Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô
    Nằm ở trung tâm thị trấn Cô Tô, khu di tích lịch sử Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô bao
    gồm các hạng mục: Tượng đài Bác Hồ, đền thờ Bác Hồ, Dốc Khoai, ao cá, Nhà lưu niệm
    và cánh đồng muối.
    Vào ngày 9-5-1961, Bác Hồ ra
    thăm đảo Cô Tô. Tháng 1-1962,
    khi Bác trở lại thăm vùng Đông
    Bắc, thể theo nguyện vọng của
    Nhân dân tỉnh nhà, lãnh đạo
    tỉnh Quảng Ninh, Uỷ ban Hành
    chính tỉnh Hải Ninh khi ấy đã
    xin phép Bác cho dựng tượng
    Người trên đảo Cô Tô và được
    Bác đồng ý. Điều đặc biệt, Cô Tô
    là nơi đầu tiên và duy nhất được
    Bác Hồ cho phép dựng tượng khi
    Người còn sống.

    1.4. Di tích kiến trúc nghệ thuật
    ● Cụm Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật đình Quan Lạn
    Công trình kiến trúc tiêu biểu đình Quan Lạn nằm ngay trên bến tàu thuyền thuộc trung
    tâm xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn. Đình được xây dựng theo kiểu hình chữ Công bao
    gồm gian bái đường, gian ống muống (nối giữa bái đường với hậu cung) và gian hậu cung.
    Mái đình lợp bằng ngói vẩy; trên nóc mái có đắp trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt;
    các đầu đao uốn cong.


    Hình 3.7. Đình và nghè Quan Lạn.

    21

    ● Đình Trà Cổ
    Theo hồ sơ khoa học xếp hạng của di tích, Đình được xây dựng từ thời Hậu Lê (năm
    1461). Năm 1974, đình Trà Cổ đã được Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể
    thao và Du lịch) xếp hạng là di tích kiến trúc – nghệ thuật cấp Quốc gia.

    Hình 3.8. Đình Trà Cổ, khu Nam Thọ, phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái.

    1.5. Một số di sản thiên
    nhiên, di sản phức hợp
    tiêu biểu trên địa bàn
    ● Khu di tích lịch sử và
    danh thắng Yên Tử
    Chùa Yên Tử gắn liền
    với tên tuổi Phật hoàng Trần
    Nhân Tông (1258-1308) dài
    gần 20 km theo tuyến đường
    từ Dốc Đỏ (chùa Bí Thượng)
    đến đỉnh núi Yên Tử (chùa
    Đồng), thuộc địa bàn phường
    Phương Đông, xã Thượng
    Yên Công, thành phố Uông
    Bí và xã Hồng Thái Đông, thị
    xã Đông Triều. Khu di tích
    và danh thắng Yên Tử là một
    quần thể các công trình kiến trúc gồ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách không phải để nhớ tất cả, mà để tâm trí bạn được mở ra với muôn vàn điều mới mẻ.” – Khuyết danh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THPT BÃI CHÁY - QUẢNG NINH !